Sidebar

Thứ Ba
28.05.2024

Lễ Chúa Hiển Linh

  1. Chiếu Tỏ Đức Tin Và Tình Thương Của Chúa
  2. Vui Mừng Vì Ðược Ngôi Sao Lạ Dẫn Ðường
  3. Tìm Chúa 
  4. Ánh Sáng Soi Đường 
  5. Thừa Kế 
  6. Ánh Sao Chỉ Ðường
  7. Chúa Nhật Lễ Hiển Linh C 
  8. Muốn Gặp Chúa.
  9. Dâng Tấm Lòng Con 
  10. Thiên Chúa Tỏ Mình Cho Nhân Loại
  11. Tìm Kiếm Chúa
  12. Sao Lạ Giữa Đời Thường
  13. Hành Trình Đức Tin
  14. Nhũ Hương, Mộc Dược Và Vàng
  15. Sẳn Sàng Cuộc Hành Trình Đến Với Đức Kitô
  16. Chúa Hiển Linh
  17. Vinh Quang Đích Thực Của Thiên Chúa
  18. Hành Trình "Đông Du" Của Các Đạo Sĩ
  19. Ánh Sao Soi Đường
  20. Đi Theo Ánh Sao Lạ
  21. Phù Thủy Bilơam và Lời Nguyền
  22. Thiên Chúa Tỏ Mình
  23. Đấng Cứu Chuộc Muôn Dân
  24. Lễ Hiển Linh: Mầu Nhiệm Ánh Sáng
  25. Chúa Tỏ Mình Ra
  26. Ánh Sao
  27. Ngôi Sao Sáng
  28. Chúa Tỏ Mình Cho Muôn Dân
  29. Hai Hướng Dẫn Viên
  30. Lễ Chúa Tỏ Mình Ra
  31. Lễ Hiển Linh

 

CHIẾU TỎ ĐỨC TIN VÀ TÌNH THƯƠNG CỦA CHÚA
Mt 2, 1 - 12

Biến cố Chúa Giáng sinh là biến cố trọng đại cho vũ trụ, cho muôn dân muôn nước. Thiên Chúa đã cho các mục đồng chứng kiến biến cố này. Đồng thời Ngài cũng cho lương dân mà đại diện là ba nhà đạo sĩ như những tâm hồn chân thành tìm kiếm Thiên Chúa được chứng kiến tận mắt biến cố lớn lao này.

Lễ Hiển Linh được gọi là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra cho nhân loại. Thiên Chúa không chỉ tỏ mình ra cho riêng dân tộc Do Thái mà còn cho muôn dân khác nữa. Bởi đó, mọi người trong chúng ta phải cộng tác với Thiên Chúa để làm bừng sáng lên ánh sáng đã xuất hiện từ Phương Đông. Chúng ta phải là ánh sao dẫn đường cho mọi người đến với Chúa. Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, tiên tri Isaia đã mở ra cả một viễn tượng lớn lao: đó là ngày và thời vinh quang của Thiên Chúa chiếu trên Dân Chúa và biến Dân Chúa thành điểm thu phục muôn dân. Mọi người từ mọi phương hướng sẽ cùng qui về một mối trong tiếng ngợi ca Thiên Chúa. (x Is 60, 1 - 6)

Nội dung của lòng tin tưởng này đã được Thánh Matthêu diễn tả một cách sống động qua câu chuyện về ba nhà đạo sĩ đi tìm gặp Đức Giêsu mới sinh tại Bêlem. Xưa chúng ta quen gọi đây là ba vua, do đó lễ Hiển Linh này cũng gọi là lễ Ba Vua. Nhưng điều mà đoạn Tin Mừng ở đây muốn nhấn mạnh đến là các đạo sĩ. Họ là những người ở ngoài Dân riêng của Chúa, không thuộc dân Do Thái nhưng họ đã tìm đến và được lãnh nhận ơn cứu độ. Có thể nói, đoạn Tin Mừng này đã diễn tả tất cả tấn bi kịch của công cuộc cứu chuộc đới với Dân riêng của Chúa và đồng thời cũng nói lên tấm lòng đại đội của Thiên Chúa: Hêrôđê tượng trưng cho quyền lực, một thứ quyền lực xảo quyệt chỉ biết khư khư giữ lấy ngai vàng của mình như một lẽ sống. Còn dân thành Giêrusalem đáng lý ra phải vui mừng khi hay tin "Vua người Do Thái mới sinh", Đấng họ trông chờ như Vị Cứu Tinh, thì trái lại, họ đã hoảng hốt cùng với Hêrôđê người cai trị trên họ. Dường như họ ngại phải dấn mình vào một sự đổi thay, dù họ tin rằng sự đổi thay đó đem lại sự giải thoát cho họ. Còn những Tư Tế và những nhà thông luật, biết rõ nơi Vị Cứu Tinh ra đời, nhưng chẳng ai màng đến với Ngài. Để rồi cuối cùng, chỉ có những người bị liệt vào hàng "dân ngoại" lại hăm hở đến với "Vua người Do Thái", cũng là Vị Cứu Tinh của nhân loại.

Lễ Hiễn Linh là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra. Chúng ta biết được qua bài Tin mừng, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho muôn dân. Thánh Gioan viết: "Thiên Chúa nào có ai thấy Ngài bao giờ, và làm sao thấy Ngài được? Nhưng người Con duy nhất của Ngài đã làm người, và cho ta thấy được Thiên Chúa mang bản tính con người, làm người như chúng ta và ở giữa chúng ta" (Ga 1, 18; 6, 46). Từ khi Ngôi Lời nhập thể, ai tin nhận Đức Kitô là tin nhận Thiên Chúa, ai từ khước Đức Kitô là từ khước Thiên Chúa.

Vấn đề được nêu lên hôm nay, là ai làm cho người ta biết Đức Kitô, nếu không phải là mỗi người chúng ta? Tuy nhiên, chúng ta đã biết Đức Kitô đến mức độ nào? Nhất định là chúng ta chỉ biết Ngài với một mức độ thật giới hạn. Còn nếu chứng minh bằng chính đời sống, để nói được với bất cứ ai, như Thánh Phaolô đã nói: "Xin ông bà, anh chị, hãy bắt chước tôi, như tôi đã sống noi gương Đức Kitô", thì lắm kẻ không dám nói, và không được phép nói. Bởi vì cuộc sống hiện tại của họ, mọi người đều biết nó như thế nào rồi! Nói cách khác, bản thân tôi chưa gặp được Thiên Chúa, mặc dù miệng tôi luôn nói: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Thiên Chúa ở trong tôi, Thiên Chúa ở trong mọi người. Nhưng thực sự, tôi không thấy Thiên Chúa nơi ai cả, ít là trong những cử chỉ tôi đối với những người chung quanh đã nói lên rõ rệt như vậy. Và cũng thế, chưa ai thấy Thiên Chúa ở nơi tôi cả vì chính cuộc sống của tôi đã nói lên rõ ràng như vậy.

Thật vậy, còn có biết bao người đang sống trong tăm tối thiêng liêng; họ đang bước đi trong lầm lạc; họ đang khao khát chân lý; họ không ngừng đặt vấn nạn với chúng ta: "Đức Vua Dân Do Thái sinh ra ở đâu?". Thế nên, chúng ta có trách nhiệm trả lời cho họ. Trả lời một Đức Kitô sống động qua con người của chúng ta, qua cách sống của mình. Không có con đường nào khác đưa người ta trở về hoặc khám phá ra Chúa Kitô ngoài cách sống đức tin của mình, lòng quảng đại, sự tha thứ, tinh thần quan tâm, chia sẻ trong tình yêu thương của Chúa Kitô. Chính tình yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất nhưng lại mãnh liệt nhất để đưa con người đến với nguồn chân lý.

Khi người Kitô hữu chỉ đóng khung đời sống đạo của mình trong nhà thờ, giữa những nghi lễ, mà không nhận ra những nhu cầu, những đòi hỏi của xã hội chung quanh; khi một cộng đoàn Kitô hữu quá bám víu vào những thứ gọi là quyền lợi tôn giáo của mình mà làm ngơ trước những đau khổ, bất hạnh của kẻ khác thì chính họ đang làm dập tắt những ánh sáng dẫn đường tới Chúa Kitô.

Thiên Chúa là Thiên Chúa tình thương, hy sinh Con một cho nhân loại phản bội. Thiên Chúa là Đức Kitô dám chết cho kẻ mình yêu tuy chúng ta không đáng yêu. Trong xã hội chúng ta, ngay giữa chúng ta, có nhiều mẫu người hy sinh, quên mình, lo cho người đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, trong các bệnh viện, đặc biệt ở những trại cùi. Có nhiều người đang âm thầm vào các bệnh viện, tìm thăm những bệnh nhân không gia đình thăm viếng, chăm sóc. Những con người đó đang sống đức tin của mình cách công khai, họ chính là những nhân chứng đích thực của Chúa Kitô.

Xin Chúa ban cho có nhiều tông đồ, nhân chứng của tình yêu Chúa với những việc làm cụ thể như thế để tạo được sự Hiển Linh, làm cho mọi người được thấy Thiên Chúa tình thương. 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con dám sống quảng đại, vị tha, quan tâm giúp đỡ đến nhu cầu của tha nhân. Xin cho chúng con trở nên những ánh sao chiếu toả đức tin, tình thương, lòng nhân hậu của Chúa cho mọi người. Amen.

VUI MỪNG VÌ ÐƯỢC NGÔI SAO LẠ DẪN ÐƯỜNG
Mt 2, 1 - 12

Thông thường khi muốn đến một nơi nào chưa biết, người ta sẽ bằng nhiều cách: tìm xem qua bản đồ, nhờ người biết trước chỉ hay dẫn đường. Nếu không người ta sẽ rất dễ bị lạc đường. Càng đến nơi quan trọng bao nhiêu thì người ta lại càng phải tìm hiểu kỷ bấy nhiêu.

Hôm nay, cùng với Giáo hội chúng ta mừng lễ Chúa Hiển linh hay còn gọi là lễ Ba vua. Nói đúng hơn đây là Ba vị hiền sĩ từ Phương Ðông. Họ được báo tin có Vua dân Do thái mới sinh ở Bêlem. Vì thế, họ cùng nhau lên đường theo sự hướng của Ngôi sao lạ đến Bêlem. Trên đường đi, chẳng may Ngôi sao lạ biến mất nên họ vào hỏi thăm vua Hêrôđê.

Không ngờ chính vua Hêrôđê cũng chẳng hay biết gì. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Ðấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu (Mt 2, 4). Họ trả lời: "Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời." (Mt 2, 5 - 6). Sau khi chỉ đường cho các nhà đạo sĩ vau Hêrôđê căn dặn kỷ lưỡng: : "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." (Mt 2, 8b). sau đó, họ đã tiếp tục lên đường. May mắn thay, Ngôi sao lạ đã tiếp tục xuất hiện và dẫn đường cho họ. "Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng." (Mt 2, 10)

Các Hiền sĩ là những người rất thành tâm thiện chí. Họ đã nhờ Ngôi sao lạ dẫn đường đến thờ lạy Hài nhi Giêsu. Mặc dù, khi Ngôi sao biến mất thì họ vẫn không nản lòng. Họ đã tìm cách hỏi thăm cho bằng được. Nhưng rồi họ lại hết sức vui mừng khi Ngôi sao lạ lại xuất hiện để tiếp tục dẫn đường cho họ.

Ngôi sao lạ ấy chính là thánh ý quan phòng của Thiên Chúa. Có thể lúc Ngôi sao biến mất là lúc Thiên Chúa muốn thử thách sự kiên trì của họ. Với sự kiên trì và tấm lòng yêu mến sự thật họ đã tìm được nơi và người họ muốn tìm.

Trong đời sống đức tin của chúng ta, chính lời Chúa và những chỉ dẫn của Giáo hội là Ngôi sao dẫn đường cho ta đến Thiên đàng. Những lúc cảm thấy như Ngôi sao biến mất là những lúc Chúa muốn thử thách lòng tin của chúng ta. Xin cho chúng ta luôn biết kiên trì và thật lòng như các Vị Hiền sĩ để mỗi ngày theo sự hướng dẫn của Chúa và Giáo hội đi về Thiên đàng.

TÌM CHÚA 
Mt 2, 1 - 12

Vào thời Trung Cổ người ta hay diễn tuồng ba vua ở trong nhà thờ hoặc nơi cửa ra vào. Để làm thõa mãn trí tưởng tượng của khán giả, người ta thường đem đến những vật kỳ lạ, và cho là lễ vật của ba vua tiến Chúa như: khỉ, vẹt, lạc đà...Lễ ba vua còn có một thủ tục khác nữa là chơi trò bắt thăm làm vua. Người ta cho một hạt đâu hay một tượng nhỏ vào trong chiếc bánh ngọt, và chia ra thành từng phần cho những người trong nhà, ai được miếng bánh có hạt đâu hay tượng nhỏ đó sẽ được làm vua, được đội triều thiên trong bữa ăn. Thủ tục này bắt chước thủ tục của dân ngoại ở Rôma, Đức... còn trong tu viện nếu được làm vua sẽ được làm chủ tọa cộng đoàn khi dự nghi lễ phụng vụ và chủ tiệc ngày hôm ấy. Từ thời Trung Cổ người dân ngoại và cả người Công Giáo đều ao ước được giống như ba vua, để được dâng lễ vật tiến Chúa, được chủ tọa nghi lễ phụng vụ... Đó chỉ là những hình thức bên ngoài của thời Trung Cổ, nhưng ít nhiều cũng cho thấy tâm tình bên trong; họ ao ước giống ba vua cả trong đức tin, hành động và cả lòng can đảm.:

1. Trong đức tin

Ba vua chính là những người dân ngoại đầu tiên nhận biết Chúa. Và chính nhờ đức tin qua ngôi sao lạ đã hướng dẫn đường đi, nước bước cho các ông. Thật vậy đức tin chính là ơn ban cao trọng nhất, vì không có đức tin chúng ta không thể sống đẹp lòng Chúa được. Hơn nữa không có đức tin thì sẽ như người mù lòa không biết đường biết hướng về đâu. Nhưng phài luôn nhớ rằng đức tin luôn là ơn ban nhưng cho tất cả mọi người, đặc biệt là dân ngoại. Đức tin đến với ba vua không như một phép lạ để họ nhận biết Người. Họ được ngôi sao lạ dẫn đường , ngôi sao này có thật hay không chúng ta không cần biết. Điều quan trọng là qua ngôi sao lạ ba vua nhận biết đó là điềm Thiên Chúa gởi đến soi sáng và đưa họ đến Bêlem để thờ lạy Chúa.

Ngày xưa ba vua nhờ đức tin soi sáng dẫn đường đã được thõa lòng hạnh phúc. Ngày nay Thiên Chúa cũng soi sáng chúng ta bằng nhiều cách qua các biến cố. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta đã biết lấy đức tin để đón nhận chưa?

2. Hành động

Thánh Giacôbê nói: "Đức tin không có hành động là đức tin chết". Nếu ba vua nhìn thấy ngôi sao mà không lên đường, thì việc trông thấy ngôi sao nào có ích gì? Đối với chúng ta cũng vậy, nếu có đức tin mà không sống theo đức tin thì có ích gì. Ba vua vừa nhìn thấy ngôi sao lạ thì nhận biết ngay đó chính là quyền phép Thiên Chúa thì các ông không cần tìm hiểu nguyên do, mà mau mắn bước theo. Thật là một niềm tin mãnh liệt là một tấm gương cho mỗi người chúng ta. Dứng trước chân lý đức tin đòi hỏi ta cũng phải có thái độ tùng phục như vậy. Do đó chúng ta hãy mau mắn làm theo ba vua, khi thấy "ngôi sao đức tin" phải vội vã lên đường, nếu ta còn lưỡng lự chậm chạp rất có thể ngôi sao đó sẽ tắt lim và không còn ánh sáng nào soi đường cho ta đi về quê thật là nước thiêng đàng nữa.

3. Can đảm

Ba vua đã từ giã gia đình thân yêu, không ngại thân già sức yếu, đường sá nguy nan, chấp nhận tất cả những khó khăn chỉ mong làm tròn thánh ý Chúa đã tỏ ra với mình. Chúng ta những người đang lữ hành, con đường mình đi chắc chắn cũng có rất nhiều chông gai hiểm trở. Chúng ta phải chiến đấu không ngừng với bản thân mình, với những xu hướng xấu từ ngay trong chính bản thân... Như ba vua đã đạt được đích đến là Thiên Chúa, thì chúng ta tin rằng với con đường đức tin mình cũng sẽ đạt được hạnh phúc đời đời. Vì thế mà mỗi người hãy can đảm vượt mọi trở ngại đời này, để sống xứng đáng với đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho ta.

Không, phải con đường đức tin lúc nào cũng trơn tru, lắm lúc cũng bị mây mù che khuất như ba vua hôm nay, nhưng với sự quyết tâm và lòng thành các ông đã vượt qua bằng cách hỏi thăm đường. Chúng ta cũng vậy lắm lúc con mắt đức tin mình cũng bị che mù làm ta không còn nhận ra đường đi nữa, không còn biết phải đi con đường nào và xử sự ra sao. Lúc đá cũng hãy biết chạy đến những người khôn ngoan, hướng dẫn đức tin như: cha sở, cha linh hướng hoặc những người khôn ngoan, chắc chắn chúng ta sẽ không bị lầm lạc và cũng tìm được Chúa như ba vua xưa đã thấy.

Trong ngày lễ hiển linh hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa Hài đồng tâm tình thờ lạy. Ta chẳng có vàng, nhũ hương và mộc dược, nhưng chúng ta có tấm lòng, có con tim. Vậy chúng ta hãy dâng lên Chúa với tất cả lòng chân thành và con tim yêu mến đó.

Lạy Chúa, chỉ tin không thì chưa đủ, mà còn đòi hỏi con phải mau mắn thi hành những điều đức tin dạy, như thế mới là sống theo ý Chúa . Amen

ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG 
Mt 2, 1 - 12

Nhờ Ánh Sao dẫn đường, ba nhà đạo sĩtừ Phương đông đã đến thờ lạy Chúa Hài Nhi. Có thể nói, họ là những con người khao khát chân lý và qui phục sự thật. Theo quan niệm vẫn có nơi nhiều nền văn hoá trên thế giới, mỗi khi có vị quân vương ra đời thì trên bầu trời xuất hiện một ánh sao lạ. Và người ta cũng thường nghĩ rằng, cuộc đời của một con người gắn liền với một vì sao nào đó!

Khi Chúa Giêsu giáng sinh, Ngài đã tỏ mình ra nhiều người, bằng nhiều cách thế khác nhau. Trước hết, Ngài tỏ mình ra cho những con người đơn sơ, nghèo khó như các mục đồng chăn chiên ngoài đồng; cho những con người thánh thiện và tốt lành như cụ già Simêon và nữ tiên tri Anna. Hôm nay, với việc các nhà đạo sĩ từ Phương Đông tìm đến với Chúa Giêsu, chúng ta có thể nói được rằng: Chúa đã tỏ mình ra với muôn dân, ngay cả với Dân ngoại. Nói cách khác, Chúa đã tỏ mình ra nơi mọi tâm hồn thành tâm thiện chí đi tìm Ngài bất luận họ là ai, thuộc dân tộc nào!

Câu chuyện trong Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ điều này là: với việc Giáng sinh làm người của Chúa Giêsu, thì Ánh Sáng đã đến trần gian. Ánh sáng này đã xoá tan ranh giới phân biệt Do thái và Hy Lạp, tuyển dân và Dân ngoại. Nhưng cũng từ đây, một "ranh giới" mới xuất hiện, không phải Thiên Chúa muốn nhưng do con người tạo ra, đó là cuộc đối đầu giữa Ánh sáng và Bóng tối. Theo thánh Gioan tông đồ, vẫn có Ánh sáng thật và cũng có Bóng tối thật! Chúa Giêsu là Ánh sáng - Ánh sáng ban sự sống, xuất phát từ Chúa Cha và những ai tìm đến với Ngài với tâm hồn ngay chính cũng được Ánh sáng soi dẫn và sống trong Ánh sáng. Nhưng khi Ánh sáng xuất hiện thì Bóng tối cũng lộ diện rõ ràng, mà Hêrôđê chính là đại diện cho những con người sống trong Bóng tối. Bóng tối trong cuộc đời này xem ra rất mạnh thế. Bóng tối cũng vô cùng tinh xảo và khôn ngoan theo kiểu thế gian. Vua Hêrôđê căn dặn những nhà đạo sĩ rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người". Đó là những lời nghe có vẻ rất đạo đức và thánh thiện của vị bạo Chúa Hêrôđê, nhưng tận đáy lòng của vị vua này là muốn tiêu diệt Hài Nhi Giêsu vì ông lo sợ rằng: với việc ra đời của Chúa Hài Nhi thì ngai vàng của ông bị lung lay. Ông sợ Vua Giêsu sẽ cướp mất quyền làm vua của ông. Thật là một suy tính tiểu nhân và trẻ con vô cùng! Ông đâu biết rằng: "mọi quyền hành ở trần gian này đều do Chúa ban và thiết định". Ông cũng đâu hiểu rằng: Chúa Giáng trần cũng là để cứu chuộc mọi người trong đó có ông nữa. Thật tội nghiệp cho ông, một vị vua sống trong bóng tối vì bị đam mê dục vọng lôi cuốn.

Trong con người chúng ta, hình như cũng có bóng dáng của ba nhà đạo sỹ mà cũng có bóng dáng của Hêrôđê ẩn hiện đâu đó. Có những lúc tâm hồn chúng ta bay bổng, tha thiết muốn đi tìm Chúa, muốn sống chết với Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Những lúc đó, chúng ta muốn sẵn sàng hiến dâng cho Chúa tất cả: "Đây tâm tư con, thân xác con, nguyện hiến dâng Ngài từ đây đến trót cuộc đời. . .!" Đó cũng là những khi chúng ta thấy Chúa luôn hiện diện bên cạnh mình, thấy mình được mọi người thương mến và quí trọng. . . Đời thật đáng sống làm sao! Yêu Chúa và yêu người dễ dàng làm sao!

Nhưng rồi có những lúc, chúng ta gặp phải những thất bại, những chống đối, những hiểu lầm; những lúc cuộc đời của ta không thuận buồm xuôi gió, thiếu trước hụt sau. . . Chúng ta cầu xin Chúa hoài mà Chúa vẫm im lặng, thì tự nhiên chúng ta cũng muốn buông xuôi tất cả. Những lúc đó, chúng ta dễ hành xử như những người không có niềm tin và hy vọng. Chúng ta rất dễ có những hành động như Hêrôđê là muốn phá đổ, muốn huỷ diệt tất cả vì mình không thấy hạnh phúc và mất bình an. Những lúc đó, ta dễ dàng nghĩ rằng: "Tha nhân là hoả ngục đối với tôi". Tôi không còn muốn tin ai ngay cả Thiên Chúa! Thật nguy hiểm biết bao! Khi trong chúng ta, hình bóng của Hêrôđê làm chủ rồi thì Chúa phải ra đi! Bóng tối không muốn tiếp nhận Ánh sáng nữa. Nhưng người con cái của Chúa đích thực thì không nên sống như thế. Chúng ta phải kiên quyết xua trừ Bóng tối ra khỏi con người của chúng ta để Ánh Sáng là chính Chúa vào làm chủ trong ta. Bất cứ lúc nào, chúng ta biết nói lời yêu thương, tha thứ, nâng đỡ nhau thì khi đó trong ta Ánh sáng đã chiến thắng Bóng tối.

Có chuyện kể rằng: Đứng trước hung tin: Jacques, cậu con trai yêu quí vừa từ trần, nữ bá tước Littry vô cùng đau khổ và cảm thấy tiêu tan hết nghị lực; tuy nhiên, bà vẫn cố gắng lao mình vào công việc phục vụ các bệnh nhân trong bệnh viện do bà sáng lập năm 1870, ở thung lũng Marne, xứ Eperny.  Ngày nọ, một thương binh người Đức được cho đến bệnh viện. Dù y thuộc thành phần quân đội thù nghịch đã giết chết con trai bà bá tước, nhưng bà vẫn tiếp nhận một cách vui vẻ. Đến khi lúc soạn đồ đạc, áo xống của người thương binh, bà bắt gặp chiếc ví và cái đồng hồ của cậu Jacques trong túi áo của tên lính Đức ấy. Vừa bàng hoàng, vừa tức giận, nữ bá tước Littry chỉ biết thốt lên: "Đúng đây là tên lính đã giết con trai mình!". Nhưng kìa, một mảnh giấy trong chiếc ví của Jacques rơi xuống. Bà Littry vội cúi xuống nhặt lên đọc, một hàng chữ đập mạnh vào mắt bà: "...Mẹ yêu quý! con luôn nhớ đến mẹ và cầu nguyện cho mẹ. Nếu chẳng may con tử trận, xin mẹ đừng quá bi lụy, nhưng hãy can đảm, quảng đại chịu đau khổ để cầu nguyện cho con..."  Sau một hồi xúc động, bà Littry cúi xuống tiếp tục săn sóc tên lính Đức cách tận tình. Trên mặt y, một giọt nước mắt của bà rơi xuống, nóng hổi, lóng lánh như hạt sương mai...!.

Nữ bá tước Littry đã để cho Ánh sáng xoá tan Bóng tối trong tâm hồn bà, để bà được tiến bước trong cuộc đời tràn ngập Ánh sáng của tinh yêu.

Các nhà đạo sỹ ngày xưa đã để cho Ánh sao lạ soi dẫn đường mình đi và họ đã đến được với Chúa nhờ lòng nhiệt huyết và đầy tin tưởng của họ. Ngày nay, chúng ta cũng có những Ánh sao soi đường để chúng ta đến được với Chúa. Ánh sao đó chính là Lời của Ngài. Nhưng thử hỏi, chúng ta có sẵn sàng để cho Lời Chúa dẫn đường mình đi không? Câu hỏi ấy đang chờ từng người chúng ta trả trời trước Chúa Gie6su Hài đồng trong Mùa Giáng Sinh này cũng như trong suốt cuộc đời chúng ta.

THỪA KẾ 
Mt 2, 1- 12

"Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lại Người".

Thừa kế là thừa hưởng một điều gì đó, chẳng hạn là gia sản. Thông thường, giữa người để lại gia sản và người được thừa kế gia sản đều có quan hệ thân tộc hoặc một mối ràng buộc nào đó. Tuy nhiên, đôi khi có quan hệ nhưng chẳng được nhận một thứ gì. Điều này không bất thường so với như việc chẳng quen chẳng biết, chẳng có dây mơ rể má gì mà lại được nhận thừa kế mới là chuyện đáng nói. Ấy vậy, chuyện ngược đời đó lại trên lại đúng cho trường hợp của chúng ta. Chúng ta được thừa hưởng một gia sản tuyệt vời từ những người không hề quen biết. Đó là đức tin từ các tông đồ. Thực sự phải nói là từ Đức Kitô.

Chúng ta được thừa kế không do công trạng của mình mà do tình yêu của Thiên Chúa. Nhờ việc thừa kế đó mà chúng ta trở nên có quan hệ huyết thống với các tông đồ và với cả Thiên Chúa nữa. "Trong Đức Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa" (Eph 3, 6). Đây thật là một mầu nhịêm.

Trở lại lịch sử, Do thái là dân riêng của Chúa, là dân được Chúa tuyển chọn và lập giao ước. Có thể nói, mọi vinh quang danh dự Thiên Chúa đã dành hết cho dân tộc này. Nhưng trớ trêu thay, khi con Thiên Chúa làm người thì người Do thái là dân đầu tiên từ chối Thiên Chúa. Nên giờ đây, ơn cứu độ không còn chỉ cho dân Do thái nữa. Chúng ta thừa kế là như thế đó.

Khi ba đạo sĩ đến gặp Hêrôđê để hỏi thăm về nơi hạ sinh của Vua dân Do thái thì từ vua đến dân đều xôn xao, bối rối, cả thành Giêrusalem náo loạn lên. Hêrôđê bối rối không phải vì chợt tỉnh ra, thấy mình sao vô tâm để rồi tìm cách để đến bài thờ Vua cả trời đất. Một người độc ác như Hêrôđê nếu có bối rối thì tại vì hắn sợ ngai vàng của mình bị lung lai. Hắn sợ, bởi nếu đây là sự thật thì thời cuộc sẽ thay đổi, điều này đồng nghĩa hắn mất vương quyền. Còn chuyện dân chúng xôn xao thì cũng đáng để luận bàn lắm. Vì thật ra điều này đã được tiên tri Malakhia nói rồi: "Và người, Bêlem , đất thuộc Giuđa, hẳn ngươi không nhỏ bé trong hàng tướng lãnh Giuđa, vì bởi nơi ngươi sẽ xuất hiện vị thủ lãnh, Đấng chăn dắt Israel dân ta" (Mk 5,1-3). Nhưng tiếc thay khi điều đó xảy ra thì không có ai tỏ vẻ mừng vui. Cũng chẳng ai tha thiết đi tìm, đi kiếm mà thờ lạy chúc tụng vị thủ lãnh Israel đó. Ngoại trừ những mục đồng nghèo nàn, khốn khó.

Thế nên, cũng sẽ chẳng có dấu chỉ nào cho dân Israel mà điều này đựơc tỏ ra cho người ngoại giáo mãi bên Phương Đông. Căn cứ theo các lễ phẩm dâng Chúa Hài Đồng thì ba đạo sĩ này đến từ Babilon. Họ được gọi là những Magi - nhà hiền triết thông thạo thiên văn và nhiều sự khôn ngoan khác. Họ là dân ngoại nhưng với sự khao khát tìm chân lý, với lòng thành kính trước sự ra đời của một vị vương tử, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho họ.

Chúa nhật Chúa hiển linh giúp ta tra vấn lại lòng tin của mình với Thiên Chúa. Chúng ta là dân thánh của Chúa nhờ phép rửa. Chúng ta giờ đây không là dân ngoại, nô lệ mà chúng ta con Cha trên trời, là "bạn hữu" của Đức Kitô. Thêm một lần mừng sinh nhật của Đức Giêsu là thêm một lần để ta vui mừng và hy vọng. Chúa giáng sinh không là lý do để chúng ta lo sợ. Đó là tâm trạng của người nô lệ. Họ sợ thời cuộc thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sự bình yên của cuộc sống, họ sợ bị bấp bên, sợ liên luỵ trong cuộc đời.

Hãy lên đường theo sự hướng dẫn của Ánh Sao.

ÁNH SAO CHỈ ÐƯỜNG
Mt 2, 1- 12

Ngày xưa, lúc chưa có la bàn, các thủy thủ hay ngắm sao trời để định hướng đi. Vào thời CG, người ta cũng hay dựa vào việc chuyển động của các ngôi sao để dự đoán về chuyện đất trời liên quan đến sự sống của nhân loại. Các nhà chiêm tinh mà chúng ta quen gọi là Ba Vua hôm nay cũng dựa vào điềm sao để tìm đến với Hài Nhi Giêsu.

Thực sự ra, ngôi sao chỉ đường cho Ba Vua đến yết kiến Ấu Chúa Giêsu ra sao? Một nhà khoa học nói rằng: vào khoảng năm Chúa Giáng Sinh, có một hiện tượng lạ thường xảy ra trên bầu trời. Đó là hai ngôi sao Jupiter và Saturn năm đó sáp lại gần nhau tạo ra sự cộng hưởng ánh sáng, khiến cho vầng trời đông có một luồng sáng khác thường và kéo dài suốt mấy tháng. Chúng ta không sống vào thời điểm đó nên không biết có phải đó là ngôi sao lạ đã dẫn đường cho Ba Vua tìm ra Chúa Hài Nhi hay không. Nhưng có một điều chắc chắn là Chúa Giêsu đã đến trần gian. Ngài là ánh sáng Sự Thật chiếu soi cho nhân loại đang sống trong u tối. Ngài đến để cứu nhân loại khỏi vòng nô lệ của tội lỗi và sự chết.

Và hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh, tỏ mình ra cho Ba Vua đại diện cho muôn dân đến thờ lạy và dâng lễ vật quý giá lên Hài nhi Giêsu. Tuy nhiên, có một điều đáng tiếc là vua Hêrôđê đang coi sóc miền Giuđêa, trong đó có làng Bêlem lẽ ra phải thông báo cho dân chúng về việc Đấng Cứu Thế ra đời để mọi người cùng tháp tùng với Ba Vua đến chiêm bái Chúa. Đàng này, vua âm thầm giữ lấy tin tức này một mình và hơn nữa lại nuôi ý đồ mưu sát Đấng cứu thế.

So sánh việc làm của Hêrôđê và Ba vua cho thấy loài người có hai thái độ khác nhau trước ơn cứu độ. Nhiều người vui mừng vì Chúa đã đến dạy cho mình điều hay lẽ phải để con người sống thanh cao, thánh thiện, xứng đáng trở nên con cái Chúa. Một số khá đông khác lại muốn khước từ chân lý, muốn sống trong bóng tối của sự giả trá, mê lầm. Họ muốn tạo lập một thế giới riêng, và bỏ qua tiếng nói của lương tâm, họ chỉ sống theo sở thích, chiều theo những dục vọng đam mê của bản năng.

Ánh sáng thật đã đến trần gian nhưng người đời chuộng tối tăm hơn sự sáng. Trong thời đại hôm nay, người ta cổ võ cho nền văn minh của bóng tối và họ cho đó là tự do: tự do làm điều xấu mà không ai dèm pha, rầy rà, người ta nhân danh quyền lợi của cha mẹ để tiêu diệt con cái mình từ trong trứng nước, sẵn sàng giết con ruột của mình lúc chưa kịp chào đời; người ta nhân danh tự do để quan hệ ngoài giá thú, trước hôn nhân... Và để lương tâm không cắn rứt khi làm những việc xấu đó họ đã lạm dụng các phương tiện thông tin đại chúng nhất là phim ảnh để làm lương tâm giảm nhạy bén về những tội này và tất cả mọi người cùng lầm lạc như họ. Có những người đang cố ý gieo rắc và cổ võ điều xấu, trong khi đa số loài người thì thờ ơ và không kiên quyết chống lại sự ác nên cũng gián tiếp làm cho sự ác lan tràn cách mau chóng.

Hêrôđê ngày xưa và thế gian ngày nay có xu hướng dập tắt ánh sáng chân lý để mọi người tiếp tục sống trong mù tối và đi vào con đường của sự chết. Đứng trước nền văn minh của bóng tối đó, Kitô hữu chúng ta hãy là những ngôi sao dẫn đường cho những ai thành tâm tìm chân lý được nhận biết Chúa và sống theo lời người để được ơn cứu độ. Mỗi người chúng ta hãy là những ánh sao ở tại nơi mình sống. Mỗi người hãy tỏ lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi người, từ thân nhân trong gia đình mình đến những người xung quanh đang cần chúng ta giúp đỡ. Nếu chúng ta biết chân thành yêu thương, hiền hòa, bác ái, thì chúng ta thật sự là những ánh sao dẫn đưa mọi người tìm đến với Chúa để được ơn cứu độ.

CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH C 
Mt 2, 1 - 12

Trước đây chúng ta gọi ngày lễ Hiển Linh hôm nay là lễ Ba Vua, đây là cách gọi quen thuộc đối với giáo dân Việt Nam, để nói về việc các nhà chiêm tinh phương Đông tìm đến Bêlem viếng Chúa Hài Đồng. Gọi là vua vì họ mặc phẩm phục như các vị đế vương, và xác định là ba người, vì có ba sắc dân được nói đến trong sách ngôn sứ Isaia, mà cũng vì lễ vật tiến dâng có ba thứ rõ ràng là vàng, nhũ hương và mộc dược như Tin Mừng thuật lại. Cứ thế, theo truyền thống, Ba Vua trở nên tên gọi cho ngày lễ.

Nhưng điều quan trọng không phải là xác định họ là vua hay không phải là vua, họ có ba vị hay bao nhiêu vị, mà chính là hãy nhìn họ như hình ảnh sống động của tất cả những ai trong đời đã có một lòng khao khát chân thành tìm kiếm Thiên Chúa khởi đi từ những thiện hảo tốt lành, nghĩa là họ là dân ngoại từ xa, không biết Kinh Thánh, nhưng lại chân thành và sẵn sàng vượt qua những chặng đường gian khổ để tìm gặp Chúa, trong khi đó dân Do Thái ở gần, hiểu biết Kinh Thánh, lại không mảy may kiếm tìm.

Mặc dầu tên gọi Ba Vua vẫn giữ nguyên giá trị cổ kính, nhưng ngày nay Phụng Vụ sử dụng tên gọi Hiển Linh để làm nổi bật ý định mầu nhiệm chung nhất của Thiên Chúa trong Mùa Giáng Sinh, đó là Ngài muốn tỏ mình ra cho tất cả mọi người, mọi thời, bất luận họ là ai và ở đâu, miễn là họ biết chân thành kiếm tìm Ngài. Vì thế, đây không chỉ là một biến cố của ngày đã qua mà còn là một sứ điệp của ngày hôm nay và cho những ngày sẽ tới, Chúa vẫn tỏ mình, nhưng vấn đề là người ta có thiện chí đến gặp Ngài không.

Theo truyền thống chúng ta vẫn gọi là lễ Ba Vua. Truyền thống nói rằng họ là những vị vua dựa trên ba của lễ đã dâng tiến cho Chúa Hài Nhi là vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng để chỉ Hài Nhi Giêsu là vua, nhũ hương để chỉ Hài Nhi Giêsu là Chúa và mộâc dược để chỉ đến cái chết đau khổ của Hài Nhi Giêsu sau này... Thế nhưng những lễ vật này có ý nghĩa gì đối với chúng ta.

Trước hết là vàng. Vàng nói lên lòng yêu mến của chúng ta, một lòng yêu mến tinh ròng, cao cả và mãnh liệt như lời Ngài đã xác định: "Hãy kính mến Thiên Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi".

Vàng còn làm lên sự trung kiên của chúng ta, không vì một lý do, một hoàn cảnh nào mà bị chao đảo, mà bị lung lay để rồi đi đến chỗ phản bội. Hãy trung thành với Chúa cho đến chết, vì không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

Sau hết, vàng còn nói nói lên sự chân thật của chúng ta. Thực vậy, chúng ta có thể lừa dối kẽ khác chứ chẳng thể nào lừa dối được Thiên Chúa. Con người thời nay thường thích hóa trang, thường thích đeo mặt nạ. Nhưng người Kitô hữu phải luôn biểu lộ con người và bộ mặt thật của mình. Phải là một thứ vàng ròng chứ không phải là một thứ vàng dổm.

Tiếp đến là nhũ hương. Nhũ hương nói lên tâm tình thờ lạy của chúng ta đối với Đức Kitô. Thực vậy, trong những nghi thức phụng vụ, nhũ hương thường được dùng khi đọc Phúc âm, khi dâng Mình Thánh, khi chầu Thánh Thể.

Qua hình ảnh nhũ hương chúng ta tìm thấy một niềm tin tưởng mãnh liệt vào bản tính Thiên Chúa của Đức Kitô. Đây không phải là một niềm tin tưởng có tính cách giáo điều hay lý thuyết mà là một niềm tin tưởng sống động và mãnh liệt, vì Đức Kitô là Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta và trở nên lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta qua Bí tích Thánh Thể, cũng như đang giảng dạy chúng ta qua lời Ngài trong Phúc âm.

Nhũ hương còn là tượng trưng cho tâm tình kinh nguyện, như thánh vịnh đã viết : "Lạy Chúa, xin cho lời con nguyện cầu tựa hương thơm bay lên tôn nhan Chúa".

Sự cầu nguyện là một việc làm riêng tư, một sự kết hợp giữa tâm hồn chúng ta với Thiên Chúa, nó xuất phát tự cõi lòng, tự con tim chúng ta. Đồng thời sự cầu nguyện còn mang tính cách cộng đồng vì lời nguyện đẹp lòng Chúa hơn cả là lời nguyện của Giáo Hội và với Giáo Hội, vì qua lời nguyện của Giáo Hội chúng ta tìm thấy lời nguyện của Đức Kitô, là đầu của nhiệm thể.

Sau cùng là môc dược. Mộc dược là niềm tin tưởng vào Đức Kitô bị đóng đinh, mà bây giờ được tái diễn qua lễ dâng trên bàn thờ : " Mỗi khi anh em ăn bánh này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Ngài trở lại".

Vì thế, mộc dược có ý nói tới việc hy sinh hãm mình, như lời Chúa đã phán : " Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta".

Tiếp đến, mộc dược còn nói lên những hy sinh trong cuộc sống. Hãy chấp nhận những khổ đau vì lòng yêu mến Chúa và hãy dâng tiến Chúa như một lễ vật nhỏ mọn, bấy giờ những đau khổ của chúng ta sẽ trở nên là một góp phần vào những đau khổ của Đức Kitô, là những giọt máu tử đạo chúng ta có thể đổ ra từng giây từng phút để làm chứng cho Chúa.

Mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ và tự hỏi : Chúng ta đã dâng gì để làm lễ vật cho Chúa Hài Nhi hay chưa ?

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết mở lòng ra để đón nhận Chúa, đón nhận Chúa với lòng yêu mến chân thành và cũng biết dâng tiến Chúa những lễ vật của chúng con nói lên lòng yêu mến Chúa của mình.

MUỐN GẶP CHÚA.
Mt 2, 1- 12

Hôm nay Giáo hội mừng kính việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại( Mt 2, 1-12). Ngay từ giây phút đầu tiên hạ sinh tin vui Thiên Chúa hạ sinh đã được loan báo cho các mục đồng và họ đã đến chiêm bái Người. Hôm nay thì đến lượt ba nhà đạo sĩ từ phương đông xa xôi đến kính thờ. Dấu chỉ ánh sao mà ba nhà đạo sĩ dõi theo để tìm ra Ấu Chúa có khó tìm lắm không ? Nếu không thì tại sao lại chỉ có ba đạo sĩ nơi xa xôi này?

Tin Mừng theo Thánh Mathêu ghi lại việc ba đạo sĩ nhìn thấy ánh sao của vua Do Thái xuất hiện bên phương Đông và các ông đã theo ánh sao đất Do Thái, đến hoàng cung để hỏi về dấu chỉ ánh sao. Nghe tin ấy vua Hêrôđê và dân Giêrusalem đều xôn xao và họ cũng tìm ra được lời giải đáp là ở Bêlem. Nhưng không vì thế mà họ đi tìm Chúa. Chỉ có ba đạo sĩ ra đi và họ đã được toại nguyện là nhận ra Ấu Chúa ( x Mt 2, 1-12). Qua đoạn Tin Mừng này cho tôi hai suy nghĩ về việc muốn gặp được Chúa.

Muốn gặp được Chúa phải có tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn. Chúa Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa làm người không chọn cho mình nơi hoàng cung, lầu các....mà chọn cho mình một người Mẹ là một thôn nữ bình thường ở làng Nagiareth, chọn cho mình một người cha cũng bình thường, chọn cho mình sống trong một gia đình bình thường.... tới lúc hạ sinh Người không tỏ lộ mình ra cho những bậc vua chúa, quan quyền nhưng Người chọn các mục đồng để tỏ lộ Người đã giáng sinh, và hôm nay là các đạo sĩ. Tại sao Chúa lại chọn thế? Theo tôi vì các mục đồng là những người đơn sơ khi nghe Thiên Thần loan tin thì đã mau mắn đến bái thờ, các đạo sĩ khi thấy ánh sao lạ thì đã dõi theo ánh sao mà đến chiêm bái Hài Nhi. Đời sống người Kitô hữu chúng ta tuy mang danh là Kitô hữu nhưng có nhiều lúc ta lạc mất Chúa do những ham muốn, những tự phụ, những tính toán, những cách đặt vấn đề của chúng ta. Chúa thì luôn hiện diện nhưng những thứ đó đã làm mờ hình ảnh Thiên Chúa khiến ta khó nhận ra. Chúa Giêsu đã từng nói "ai không nên như trẻ nhỏ thì chẳng được vào Nước Trời". Thế nên muốn được gặp Chúa trước hết phải có tâm hồn đơn sơ khiêm tốn. Có thấy mình thiếu thốn, có thấy mình cần Chúa thì Chúa mới có thể lấp đầy.

Muốn gặp Chúa phải kiên nhẫn đi tìm. Các đạo sĩ đã rất gian nan để tìm đến nước Do Thái, có những lúc lạc mất ánh sao nhưng không vì thế mà họ nản lòng. Họ dùng đủ mọi cách để tìm cho được Hài Nhi. Và Chúa đã không phụ lòng họ. Có lẽ ánh sao không chỉ là dấu chỉ cho ba nhà đạo sĩ mà thôi nhưng chỉ có ba đạo sĩ tìm ra Chúa. Bằng chứng là vua Hêrôđê và cả thành Giêrusalem xôn xao nhưng không ai đi tìm như ba đạo sĩ. Chúa Giêsu nói:"Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho". Ơn gọi của chúng ta là ơn gọi nên thánh, nên thánh là được ở bên Chúa, nên giống Chúa. Theo Chúa không phải một ngày một lúc nhưng đòi hỏi ta luôn nép mình luôn trong tình thương Chúa cho dù có lúc ta như lạc lối nhưng với sự kiên trì chắc chắn ta sẽ gặp được Ngài như ba đạo sĩ.

Hôm nay Chúa tỏ mình ra cho ba đạo sĩ phương Đông, cho lương dân cho thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa không là độc quyền của dân tộc hay quốc gia nào nhưng là phổ quát cho mọi dân tộc, mọi người. Vì thế, ta có nhiệm vụ là làm sáng lên trong ta ơn cứu độ của Thiên Chúa cho anh chị em chưa nhận biết Chúa ( Ba đạo sĩ dù được ánh sao chỉ đường nhưng phải nhờ đến dân Do Thái và Thánh Kinh mới tìm ra được Vì Cứu Tinh ). Các đạo sĩ đã dâng vàng, nhũ hương và mộc dược cho Chúa Hài Đồng tượng trưng cho Vương Quyền, Thiên Tính và Khổ Nạn của Chúa Giêsu, nay chúng ta đến với Chúa ta có gì dâng Chúa, Chúa muốn đón nhận tất cả những ai đến với Chúa với tâm lòng thành thật khiêm tốn, cho dù có những vết thâm tím của những lần lưu lạc nhưng tin chắc rằng Chúa sẽ đón nhận, chữa lành và thêm sức cho ta vững bước về cùng Chúa.

DÂNG TẤM LÒNG CON 
Mt 2, 1- 12

Ngày nào đó bước lên chuyến xe khách thử hỏi hai người cùng đi tơí một địa điểm chắc chắn ta sẽ nghe được hai mục đích khác nhau. Cũng vậy, Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay sẽ cho thấy hai thái độ khác nhau của việc tìm kiếm Chúa Giêsu Hài Đồng.

Với các Hiền sĩ từ phương Đông, họ đi tìm trong thái độ thật lòng và khiêm tốn. Họ đã lặn lội từ phương xa theo ánh sao lạ dẫn đường. Vàng, nhũ hương và mộc dược là những lễ vật họ mang theo để dâng tiến Chúa Hài đồng. Vàng là thứ dành riêng cho vua. Nhũ hương chỉ đặc biệt một mình vị thượng tế sử dụng. Còn mộc dược là thứ để dành cho việc ướp xác. Những lễ vật này chứng tỏ các vị ấy phần nào đã công nhận thân thế và sự nghiệp thật của Hài nhi Giêsu. Hài nhi Giêsu chính là vị Vua Messia mà muôn dân đang trông đợi. Cũng chính Người sau này sẽ dùng cái chết của mình làm hy tế dâng lên Chúa Cha đền thay tội lỗi muôn dân.

Ngược với các Hiền sĩ là thái độ tò mò và ghen ghét của vua Hêrôđê. Vì sợ mất quyền ảnh hưởng nên vừa nghe các Hiền sĩ hỏi thăm, ông hết sức bối rối đến nỗi làm cho cả thành Giêrusalem xôn xao. Câu nói: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người" thật sự chỉ là ác ý. Trong tâm trí ông luôn bị ám ảnh đến sự mất ngôi. Vì thế, ông sẵn sàng làm mọi cách để tiêu diệt những ai có ảnh hưởng đến vị thế ấy. Bằng chứng rỏ ràng, sau đó ông đã ra lệnh giết tất cả trẻ em Do thái từ hai tuổi trở xuống ở Bêlem và các vùng lân cận. (Mt 2, 16)

Thật vậy, ông bà ta thường nói: "Dò sông dò biển dể dò. Nào ai lấy thước mà đo lòng người." Cùng một biến cố Hài nhi Giêsu nhưng trước mắt ta đã thấy hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau. Từ đó đã đưa đến hai kết quả cũng khác nhau. Các Hiền sĩ đã được ngôi sao dẫn đường đi đến chiêm ngắm Hài nhi Giêsu. Còn Vua Hêrôđê không được ai chỉ đường đến Bêlem thì làm sao chiêm ngắm.

Biến cố Ngôi Hai nhập thể là sự thật. Đây cũng chính là một trong ba mầu nhiệm chính trong đạo Công giáo. Chỉ những ai biết để cho mình bé mọn trước Chúa thì sẽ được biết nhữnng điều cao cả (Mt 11, 25). Chỉ cần ta hết lòng dâng cho Người thì sẽ được Người ban thêm cho (Mt 25, 29). Hãy tha thiết nài xin Hài nhi Giêsu cho ta biết khao khát và thật lòng đi tìm chân lý trong cuộc sống.

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH CHO NHÂN LOẠI
Mt 2, 1- 12

"Các đạo sĩ bước vào nhà, thấy Hài nhi và thân mẫu là Bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người, rồi mở tráp lấy vàng nhử hương và mộc dược mà dâng lên..." (Mt 2, 11)

Câu chuyện Phúc âm của ngày lễ Hiển linh hôm nay thật lạ lùng, lạ lùng không phải vì chỉ có thánh Matthêu ghi lại, nhưng chính là vì nội dung của câu chuyện này. Ba nhà chiêm tinh từ đâu xa lắc bên xứ Á rập, Ba Tư, nơi người ta rất quan tâm về khoa chiêm tinh, đã nhận thấy sao lạ hiện ra; họ đã bỏ mọi sự để đi tìm vị vua của ánh sao lạ đó. Cuối cùng họ đã tìm gặp và họ đã thờ lạy, bỏ công bao lâu nay đi tìm kiếm... Câu chuyện lạ lùng y như câu chuyện thần tiên; vậy mà chính Kinh thánh ghi lại cho chúng ta cách chi tiết như vậy. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.

a. Truyền thuyết cho ta biết ba nhà đạo sĩ có tên gọi là: Gaspar, Balthasar và Melchior. Nhờ ánh sao dẫn đường, ba đạo sĩ đã gặp Chúa và đã quỳ xuống thờ lạy Người. Sự việc này được coi như cuộc Hiển linh (tỏ mình ra) cho bất luận là ai, không phải chỉ một mình dân tộc Do thái.

Khi ba đạo sĩ vừa đến Giêrusalem, ngôi sao dẫn đường biến mất; họ đành phải đi hỏi thăm các thày thư ký, các thông luật, các thượng tế và cả Hêrôđê nữa. Lúc đó Phúc âm ghi, cả thành đều xôn xao. Vua Hêrôđê bối rối. Thái độ bối rối của ông vua này không phải vì không biết Vua dân do thái sinh ra ở đâu, nhưng đó chỉ là vì sợ chiếc ngai vàng của ông bị lung lay khi hay tin Vua dân do thái chào đời.... Khi các đạo sĩ được cho biết rồi, họ ra đi và đã gặp Vua mới sinh. Họ đã sụp lạy và dâng lên Người : vàng - nhủ hương và mộc dược... Ba món lễ vật này, chính là để tỏ lòng tôn kính. Vàng chỉ vương quyền của đức Kitô; nhủ hương chỉ thiên tính; mộc dược chỉ cuộc tử nạn sau này.

b. Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cho ta hai ý suy niệm:

* Hình ảnh cuộc hành trình đi tìm Chúa Hài nhi của ba nhà đạo sĩ, cũng chính là hành trình cuộc đời mỗi người chúng ta, hôm nay. Thật vậy, việc tìm kiếm hạnh phúc, tìm kiếm Thiên Chúa của con người ở mọi thời đại đều giống nhau. Khi xưa, ba nhà đạo sĩ đã không ngại bỏ nhà cữa, gia đình, nệm ấm chăn êm, lao đao vất vả, để đi đến chân trời vô định mà tìm kiếm Vua mới sinh. Công việc xem ra không chút hi vọng gì! Vậy mà cuối cùng họ đạt được ý nguyện. Hành trình đức tin chúng ta cũng tương tợ như thế. Trên đường đi, gặp khó khăn cản trở, đó là điều tất nhiên. Ba nhà đạo sĩ đầy quả cãm, kiên trung; chính vì thế họ đạt được thành công trọn vẹn, là gặp Đấng Cứu thế. Cuộc hành trình đức tin, cũng dài và cũng không êm ả như vậy. Vì thế nó đòi hỏi ta phải can đãm, kiên trì sống theo Lời Chúa, hiệp nhất với Ngài ngay trong cuộc sống ở đời này. Có như vậy mới đạt tới đích là gặp gở Đấng Cứu thế như ba nhà đạo sĩ .....

* danh từ: Hiển linh có nghĩa: Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, đại diện chính là ba nhà đạo sĩ. Lẻ ra người được Thiên Chúa tỏ mình ra trước tiên phải là dân tộc Do Thái, vì từ Cựu Ước, họ đã lãnh nhận lời hứa trở thành dân thánh của Chúa, và Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Tinh sinh ra từ dân tộc này. Điều này muốn nói lên: ơn cứu rổi là dành cho tất cả mọi người, không riêng dân tộc Do thái. Chính vì thế, Con Thiên Chúa giáng sinh hôm nay, là cho mọi người, không phân biệt ai cả. Tại sao các kinh sư, thượng tế lại không được đón nhận hồng ân này...

c/. Gợi ý suy niệm:

* Lễ Hiển Linh chính là để nói lên Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, không phải chỉ dân tộc Do thái. Mừng lễ Hiển linh, ta có suy nghỉ nào đây? Ta có muốn TC tỏ mình ra cho chính ta không?

* Các nhà chiêm tinh đã lặn lội vất vã ngày đêm, để tìm đến và thờ lạy Chúa Hài nhi. Khi nhận ra dấu chỉ Chúa mạc khải, họ sẵn sàng bỏ tất cả, gia đình, vợ con, quê hương để đi tìm Vua mới sinh. Còn ta thì sao? Ta có sẵn lòng bỏ tất cả để theo Vua Giêsu không?

TÌM KIẾM CHÚA
Mt 2, 1 - 12

 Các nhà chiêm tinh từ phương Đông phát hiện ngôi sao lạ và các ông nhận ra là có một vị Vua mới sinh ra nên các ông vội vả mang lễ vật lên đường tìm kiếm để thờ lạy vị Vua mới sinh ấy. Hành trình của các nhà chiêm tinh thật vất vả, các ông phải lặn lội đường xa theo dấu ngôi sao lạ mà đi. Đến Giêrusalem thì ngôi sao lạ biến mất, các ông phải tìm hỏi khắp nơi làm xáo trộn cả thành Giêrusalem, làm cho Vua Hêrôđê vô cùng bối rối: "Nhà Vua liền triệu tập tất cả các Thượng tế và Kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu". Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giuđa, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Belem, miền Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-el dân Ta sẽ ra đời". Các nhà chiêm tinh lại tiếp tục lên đường theo hướng Bêlem, miền Giuđa. Đến nơi, "họ vào nhà, thấy Hài Nhi với Mẹ Người là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến".

Trong sách Giáo Lý Công giáo số 27 và 35 dạy: "Tận đáy lòng, con người khao khát tìm kiếm Thiên Chúa vì con người được tạo dựng do Thiên Chúa, ... vànhờ những năng lực của mình, con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một Thiên Chúa ...và chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm gặp chân lý và hạnh phúc ...". Và trong Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Rôma dạy "Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì thật là hiển nhiên trước mắt họ ...". Các nhà chiêm tinh nhờ vào sự hiểu biết của mình mà nhận ra Vị Vua mới sinh và mau mắn lên đường tìm gặp Ngài. Các nhà chiêm tinh đã dùng khả năng Chúa ban để đi tìm kiếm Ngài. Ngược lại, các Thượng tế và Kinh sư nhờ đọc sách Thánh mà biết được vị Vua sẽ sinh ra tại làng Bêlem nhưng không tìm kiếm Ngài, những điều các Thượng tế và Kinh sư biết được trong sách Thánh chẳng đem lại ích lợi gì cho các ông, vì các ông không tìm Chúa.

Thật trớ trêu thay, các nhà chiêm tinh không hiểu biết kinh thánh nhưng nhờ vào sự hiểu biết thiên văn mà nhận ra vị Vua xuất hiện, rồi đến với Ngài. Còn các Thượng tế và Kinh sư thì không. Đúng là "kẻ trước hết sẽ nên sau hết, kẻ sau hết sẽ trở nên trước hết".

Mỗi Kitô hữu chúng ta hãy xét mình lại, dù chúng ta đã đã được rửa tội, dù chúng ta đã lãnh nhận các Bí tích, nhưng chúng ta có chân thành tìm kiếm Chúa mỗi ngày trong cuộc sống không ? Chúng ta có có dùng khả năng Chúa ban để tìm Chúa như các nhà chiêm tinh không hay chúng ta lại an tâm vì mình đã được rửa tội, đã được nghe Lời Chúa và lãnh các bí tích rồi không cần tìm kiếm Chúa nữa như thế chúng ta giống các Thượng tế và Kinh sư xưa.

Các nhà chiêm tinh đã không quản ngại đường xa vất vả, không ngại tốn thời gian, không ngại tốn của cải, gặp khó khăn trở ngại họ không hề chùng bước thối lui, họ cố gắng vượt qua tất cả để gặp được Chúa hài nhi.

Chúng ta có được thái độ như thế không ? Đường xá xa xôi có làm chúng ta ngại đến nhà thờ tham dự thánh lễ không ? thời gian đọc kinh, cầu nguyện, dự lễ có làm cho chúng ta ngán ngại không ? Những khó khăn, buồn phiền, thất mùa, thiên tai có làm cho chúng ta chậm bước chân đến với Chúa không ? Một chút thử thách đó có làm cho chúng ta "thay lòng đổi dạ" với Chúa không ? Chúng ta có tin vào quy luật "sau cơn mưa trời lại sáng" để luôn vững niềm tin vào Chúa không ?

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết hết lòng tìm Chúa trong mọi sự như lời Chúa dạy: "tiên vàn hãy tìm những sự trên trời còn mọi việc khác Chúa sẽ ban cho".

SAO LẠ GIỮA ĐỜI THƯỜNG
Mt 2, 1 - 12

1. LỜI CHÚA: Thánh Phao-lô dạy các tín hữu: "Giữa một thế hệ sa đọa, anh em hãy tỏa sáng như những vì sao trên vòm trời" (Pl 2,15b).

2. CÂU CHUYỆN: MÓN QUÀ CỦA AR-TA-BAN.

HĂNG-RI VĂNG ĐAI-KƠ (Henry Van Dyke) có thuật lại câu chuyện nhan đề: "CÒN MỘT NHÀ ĐẠO SĨ KHÁC NỮA", kể về nhân vật thứ tư là người lẽ ra đã cùng ba nhà đạo sĩ đi tìm Vua dân Do thái mới sinh. Nhân vật này tên là Ar-ta-ban. Trong lúc chuẩn bị lên đường, Ar-ta-ban có mang theo một túi đựng những viên kim cương để dâng tặng cho vị ấu vương. Thế nhưng trên đường đến điểm hẹn, Ar-ta-ban đã phải dừng chân để giúp đỡ một người nghèo đói nằm bên vệ đường. Do đó khi đến nơi thì ông không còn thấy ba vị kia đâu. Dù vậy, ông vẫn kiên trì tiếp tục cuộc hành trình đi tìm Vua Cứu Thế. Trên đường tìm kiến, mỗi lần gặp một người khốn khổ, ông lại bán đi một viên kim cương để giúp đỡ. Sau nhiều năm, Ar-ta-ban đã dần dần trở thành một lão già ốm yếu, thế mà ông vẫn chưa gặp được Vua Do thái như lòng hằng mong ước.

Rồi 33 năm sau, khi đang trọ trong thành Giê-ru-sa-lem, Ar-ta-ban thấy cả thành xôn xao náo động vì cái tin nhà cầm quyền đang đem một tội nhân đi hành hình thập giá. Ar-ta-ban tò mò hoà theo dòng người đi xem. Khi nhìn thấy tội nhân đang vác cây thập tự bị té ngã nhiều lần, linh tính cho biết đó chính là vị Vua Cứu Thế mà ông hằng tìm kiếm. Ong liền đi theo Người trên đường thương khó. Rồi khi tội nhân bị đóng đinh và bị treo trên thập giá, Ông muốn đến gần ôm lấy vị Vua kia, nhưng không thể được vì bị bọn lính canh ngăn cản. Bỗng chốc Ar-ta-ban thấy vị Vua mở mắt ra nhìn ông và ông nghe thấy có tiếng thì thầm bên tai rằng: "Này Ar-ta-ban, con đừng buồn nữa. Ta cám ơn con vì bao năm qua đã nhiều lần con tặng quà cho Ta. Nhiều lần Ta đói con đã cho bánh ăn, Ta khát con đã cho nước uống, Ta rách rưới con đã cho đồ mặc, Ta là khách lạ con đã đón ta vào nhà ở trọ...".

Nghe những lời ấy, Ar-ta-ban cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui. Ông hiểu rằng: Các món quà xưa nay ông đã chia sẻ cho người nghèo là ông đã dâng tặng cho chính Vua Giê-su Cứu Thế. Món quà đó không nhất thiết phải là tiền bạc vật chất, nhưng còn là tình người, là sự thông cảm với những ai đang bị đau khổ, là thái độ khiêm tốn sẵn sàng phục vụ tha nhân vô vụ lợi.

3. SUY NIỆM:

1) Ngôi sao lạ dẫn đường: Khi Chúa Cứu Thế giáng sinh, trên bầu trời xuất hiện một ngôi sao lạ. Có lẽ nhiều người Do thái đã nhìn thấy ngôi sao lạ kia, nhưng chỉ mấy nhà chiêm tinh gia hay đạo sĩ ngoại giáo mới nhận ra đó là dấu chỉ của vị Vua Thiên Sai. Rồi các ngài mau mắn đem lễ vật lên đường tìm kiếm ấu vương mới sinh. Các ngài không nề quản gian nan vất vả, không ngại đường xa vô định, không sợ hy sinh sức khỏe, thời giờ và tiền bạc, không nản chí thất vọng khi gặp các trở ngại dọc đường. Chính vì đầy thiện chí như vậy nên cuối cùng các ngài đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế, đã dâng tiến cho Người các lễ vật tượng trưng cho lòng thành, và đã nhận được ơn đổi mới.

2) Thái độ dửng dưng của vua chúa và các đầu mục dân Do Thái: Đang khi ấy vua Hê-rô-đê vì lo cho ngai vàng của mình, nên đã tìm cách sát hại Hài Nhi Cứu thế. Còn các thượng tế và kinh sư thì lại dửng dưng. Các ông đã dựa vào Thánh kinh để chỉ đường cho các đạo sĩ đến Bê-lem gặp Vua Thiên Sai mới sinh, nhưng chính các ông lại không dấn thân đi tìm người. Về sau cũng bọn người này đã mượn tay Tổng Trấn Rô-ma để lên án tử hình cho Đấng Thiên Sai và giết Người trên cây thập giá.

3) Ánh sao lạ giữa đời thường: Mỗi Ki-tô hữu phải là một ánh sao lạ: Chúng ta phải dùng lời nói, việc làm và cách ứng xử nhân ái làm dấu chỉ giúp bạn bè và anh em lương dân chung quanh nhận biết Chúa. Một nụ cười vui vẻ, một ánh mắt thân thiện, một lời khen đúng lúc, một việc phục vụ khiêm hạ của chúng ta cũng có thể phát quang giống như ánh sao lạ trên trời như lời thánh Phao-lô dạy: "Giữa một thế hệ sa đọa, anh em hãy tỏa sáng như những vì sao trên vòm trời" (Pl 2,15b). Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể là những vì sao sáng thực sự khi chúng ta biết làm cho mình lu mờ đi để Chúa Giê-su lớn lên (để cho ngôi Sao Mai là Đức Ki-tô mọc lên trong lòng chúng ta (x. Kh 2,28).

4.THẢO LUẬN: 1-Tại sao dân ngoại từ phương trời xa đã gặp được Hài Nhi Cứu Thế, đang khi các nhà kinh sư thông thạo Kinh Thánh ở gần Bê-lem lại không gặp được Người?

2- Trong môi trường sống và làm việc hiện tại, bạn cần phải làm gì để chiếu ánh sáng lạ để anh em lương dân nhận biết và tin theo Đức Giê-su?

5.NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Tạ ơn Chúa đã cho chúng con ánh sáng mặt trời mặt trăng, và các lọai ánh sáng phát xuất từ các nguồn năng lượng khác nhau trên mặt đất. Tạ ơn Chúa đã gọi chúng con là "Ánh sáng cho trần gian". Đây là một niềm vinh dự nhưng đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề cho chúng con. Xin cho ánh sáng của chúng con có sức đẩy lui bóng tối của hận thù và bất công, của buồn phiền và thất vọng ra khỏi những người chúng con tiếp xúc. Xin cho chúng con biết duy trì được ngọn lửa tin yêu mà Chúa đã thắp sáng trong lòng chúng con, và biết sẵn sàng vâng theo những soi dẫn của Lời Chúa qua từng phút giây cuộc sống.

- LẠY CHÚA. Cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối vẫn đang tiếp diễn trên thế gian và ngay trong lòng mỗi người chúng con. Ước chi chúng con đừng chỉ biết nguyền rủa bóng tối tội ác, mà còn biết làm cho ngọn đèn đức tin của chúng con luôn cháy sáng đức ái, để cả trái đất này đều được ngập tràn ánh sáng tìn yêu của Chúa, nhờ đó sẽ giúp mọi người nhận biết tin yêu Chúa và được chia hạnh phúc Nước Trời với chúng con.

X. Hiệp cùng Mẹ Maria         
Đ. Xin Chúa nhậm lời chúng con

LM ĐAN VINH   www.hiephoithanhmau.com

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN
Mt 2, 1 - 12

Có những chuyến đi mang tính lịch sử lâu dài, được trân trọng nhắc đến như chuyến lên mặt trăng đầu tiên vào thập niên sáu mươi của các phi hành gia Hoa Kì. Xa hơn nữa, lần ngược về quá khứ, là những cuộc hải hành của các nhà thám hiểm đi tìm đất mới. Những chuyến đi lừng danh đó nhiều khi được cả quốc tế biết đến nhưng bản chất của nó vẫn mang tính cách quốc gia. Mang tính cách quốc gia vì nó được chính quyền các quốc gia đó ủy thác trọng trách trong việc làm nên lịch sứ cho quốc gia họ. Hầu như lịch sử thế giới không phân biệt chuyến đi mang tính cách cá nhân, tự chi phí cho chuyến đi riêng của mình nhưng trân trọng ghi lại mọi chuyến đi làm lên lịch sử. Sau khi làm lên lịch sử, trang sử đó được gấp lại và chỉ mở ra khi cần tham khảo.

Tôn giáo hoàn toàn khác biệt với ghi nhận của lịch sử của nhân loại. Những chuyến đi xem ra tầm thường, hoàn toàn có tính cá nhân, riêng tư hay tình gia đình lại được để cập đến trong lịch sử ơn cứu độ. Đức trinh nữ Maria đi thăm người bà con thân thuộc là Elizabeth được ghi dấu trong lịch sử ơn cứu độ. Đây là chuyến đi hoàn toàn có tính cách cá nhân, gia đình lại trở thành mẫu mực cho việc thăm viếng, mang tin vui tới cho người mình thăm. Chuyến đi đền thờ cầu nguyện và con trẻ Jesu bị lạc mất ba ngày cũng ghi đậm nét trong lịch sử cứu độ và được công bố hàng năm trong lịch phụng vụ. Chuyến đi này hoàn toàn có tính cách gia đình, một gia đình thời đó vô danh, không mấy ai để í đến. Chuyến đi của ba vị từ Phương Đông cũng là chuyến đi có tính cách cá nhân, cá biệt cũng được nhắc đến đầy đủ chi tiết. Vì thế những chuyến đi mang tính cách đức tin có chiều dài lịch sử dài hơn, chiều sâu sâu hơn là những chuyến đi mang tính cách khám phá đất mới hay tìm hiểu về khoa học. Chuyến đi vì đức tin có thể không được quảng bá rầm rộ trên báo chí hoặc truyền thông trong đại chúng nhưng những chuyến đi đó thường mang tính cách quốc tế nhiều hơn là tính cách quốc gia vì ở đâu có người chung niềm tin, ở đó những chuyến đi đó được mừng kính hàng năm để ghi nhớ dấu ấn đức tin của con người tin vào Thiên Chúa.


Chuyến đi của ba vị từ Phương Đông còn mang một í nghĩa quan trọng hơn đó là một chuyến đi tìm kiếm sự thật. Lòng họ ao ước bỏ công việc riêng, ra đi tìm hiểu rõ sự thật. Sự thật đó là ngày sinh của Đấng Cứu Thế. Với đại chúng mừng Giáng Sinh là mừng ngày Chúa sinh ra. Với ba vị đạo sĩ Phương Đông mừng Giáng Sinh khởi đẩu từ lúc gặp Chúa trong máng cỏ. Nói rõ hơn mừng Giáng Sinh là mừng ngày nhận biết Chúa tỏ mình ra cho con người. Theo í nghĩa đó thời điểm mừng Giáng Sinh khác nhau và kéo dài nhiều ngày sau ngày Chúa Giáng trần. Chúa tỏ mình ra cho nhiều nhóm khác nhau, đầu tiên là các mục đồng, sau đó là đến các vị đạo sỉ rồi ngày Chúa nhật lễ Thánh Gia thất, lễ Đức Mẹ là mẹ Thiên Chúa, lễ Chúa tỏ mình ra trong đền thờ và chấm dứt vào ngày lễ Chúa nhận phép rửa. Vì sau ngày này không còn đọc kinh Tiền Tụng Giáng Sinh nữa. Với các nhà làm thương mại Giáng Sinh chấm dứt khi không còn người trao đổi hàng hoá, quà cáp Giáng Sinh ế ẩm. Với Giáo Hội Giáng Sinh kéo dài theo í nghĩa


Con Người xuống thế làm người và ở giữa chúng ta.


Bất cứ khi nào Chúa tỏ mình ra thì í nghĩa Chúa Giáng Sinh lại sống lại trong cá nhân đó. Đừng mừng giáng Sinh theo tinh thần xem bắn pháo bông. Cần nhiều tuần tổ chức cho ngày đó nhưng pháo bừng sáng rồi tắt lịm trong năm mười giây. Chúng ta nói là mùa Giáng Sinh vậy mùa thường kéo dài vài ba tuần mới đúng í nghĩa của mùa. 

Lm Vũ đình Tường

NHŨ HƯƠNG, MỘC DƯỢC VÀ VÀNG
Mt 2, 1 - 12

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân ngoại. Ngày nay trên thế giới, nhiều nước đã mừng lễ Hiển Linh lớn hơn cả lễ Chúa Giáng Sinh. Bởi vì, lễ Hiển Linh là lễ Chúa Giêsu tự tỏ mình ra cho những dân ngoại giáo nghĩa là lễ Của Chư Dân.

Đọc đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay, chúng ta hiểu rõ hơn về ba nhà Đạo sĩ từ Phương Đông đi tìm gặp Hài Nhi theo sự chỉ dẫn của Ngôi Sao lạ. Tuy nhiên, Tin Mừng của thánh Matthêu cho cho chúng ta đối chiếu giữa: Hêrôđê và Hài Nhi Giêsu. Đồng thời đối chiếu giữa các Thượng tế, Kinh sư và Ba nhà Đạo sĩ. Thực tế mà nói, Hêrôđê là một vị vua đầy quyền lực, giầu có và được sự che chở, nâng đỡ của Đế Quốc La Mã. Ông luôn sợ bị Đế Quốc La Mã bỏ rơi. Mặc dầu đầy uy quyền, nhiều người run sợ trước quyền lực của Ông nhưng Hêrôđê tự mình cũng đang run sợ trước một con người: Hài Nhi Giêsu. Hêrôđê dù chưa biết con trẻ này là ai nhưng khi nghe các nhà Đạo sĩ báo tin, Ông mất ăn mất ngủ vì sọ vương quyền của Ông bị lung lay.Nên, Ông và cả thành Giêrusalem xôn xao. Và rồi ý định điên rồ của Ông được nhen nhóm, Ông ra lệnh tru diệt tất cả các con trai đầu lòng của người Do Thái ở Bê Lem và các vùng phụ cận, Làm như thế, Ông an tâm vì tưởng đã tiêu diệt được Chúa Giêsu. Ông đã hành động khát máu, điên rồ. Chính tại Giêrusalem, nơi đã sát hại các ngôn sứ thì cũng tại Giêrusalem mấy chục năm sau, họ cũng treo Chúa Giêsu trên Thập giá. Vâng, các Thượng tế và các Kinh sư theo lệnh của Hêrôđê đang lật hết sách này tới sách kia, lịc sử này tới lịch sử khác để biện minh cho chính họ vì tại Bêlem đã đản sinh Đấng Cứu Thế mà họ không hay không biết. Té ra Chúa đang hiện diện trước họ nhưng họ không thể nhân ra Ngài vì Ngài quá khó nghèo, không hào nhoáng, không ở nơi cung điện vua, lầu son gác tiếc, nên họ không thể nhìn ra Ngài vì họ không có đức tin, không có đôi mắt tinh tường vv...Đối lập vớ họ, ba nhà Đạo sĩ hay nói kiểu nôm na từ xưa là ba Vua, những người ở phương xa, là khách thập phương, họ cứ đi theo ánh sao, trên đường đi họ đã gặp biết bao gian truân, bao nhiêu khó khăn, họ cứ kiên trì, bền chí vững lòng tiến về phía trước. Cuối cùng họ đã gặp được Hài Nhi Giêsu. Với tấm lòng cung kính mến yêu, họ đã phủ phục thờ lạy Hài Đồng Giêsu. Với lòng tôn kính họ đã nhận ra thần tính của Hài Đồng Giêsu và rồi, họ đã dâng cho Chúa Hài Nhi Vàng, Nhũ Hương và Mộc Dược là những sản vật quí của nước họ. Ba sản vật này vàng để tôn vinh Chúa là vua. Nhũ hương để khẳng định Chúa là Thiên Chúa và Mộc dược để loan báo cái chết và phục sinh của Chúa.


Lễ Hiển Linh là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra với loài người, tự giới thiệu với loài người. Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng, loan báo Tin Mừng là chính Ngài thời Ngài sống, ngày nay chúng ta cũng phải tiếp tục rao giảng, tiếp tục loan báo cho mọi người biết Tin Mừng là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm, hạ sinh làm người và sống giữa chúng ta. Đức Giêsu đã đi vào lịch sử, đã cứu độ không chỉ người Do Thái vào thời Ngài sinh ra nhưng Ngài cứu độ mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trong mọi thời đại.


Chúa Giêsu đã đến trần gian ban an bình cho con người. Ngài đã thiết lập Nước Trời tại trần gian, Ngài đã thiết lập một thế giới mới, một thế giới trong đó mọi đau khổ, mọi buồn phiền không còn nữa, thế giới mà ngôn sứ Isaia đã loan báo: sói sống chung với chiên, sư tử sống chung với nai, với cheo, với mang vv...Thế giới mà trẻ nhỏ thọc vào hang rắn độc cũng không sợ rắn độc cắn vv...Đó là viễn tượng của một thế giới hoàn toàn hòa bình. Thế giới trong đó những người nghèo sẽ được quan tâm giúp đỡ, những người đau khổ sẽ tìm thấy những người bạn chân tình, yêu thương. Đây là Tin Mừng mà tất cả chúng ta phải loan truyền cho thế giới. Đó là sứ điệp của lễ Hiển Linh mà chúng ta phải loan báo, rao giảng.


Ngày nay, Thiên Chúa vẫn chỉ đường dẫn lối chúng ta bằng những ánh sao. Những ngôi sao chỉ đường không phải ở trên trời cao. Nhưng là những ánh sao Chúa gieo vào lòng con người. Mọi Kitô hữu phải trung thành đi theo những ánh sáng đó trong cuộc hành trình đức tin đầy cam go thử thách, đầy mạo hiểm như ba nhà Đạo sĩ xưa.


Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn trung thành với đức tin ngày chúng con lãnh nhận bí tích rửa tội. Xin cho ngôi sao lạ đã dẫn đường ba nhà Đạo sĩ đến Bêlem để gặp Hài Đồng Giêsu, luôn xuất hiện trên đường chúng con đi để dẫn đường chỉ lối cho chúng con đến gặp Chúa.Xin cho chúng con biết thắp lên những ngọn lửa sáng để chiếu sáng mọi người. Xin cho ngọn lửa đức tin chúng con luôn bừng sáng để nhiều người nhận ra Chúa nơi chúng con. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

SẲN SÀNG CUỘC HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI ĐỨC KITÔ
Mt 2, 1 - 12

Có phải quý vị rất vui khi nhận thiệp Giáng sinh phải không? Đôi khi, một cánh thiệp Giáng sinh là thời gian duy nhất chúng ta nghe ngóng tin từ bạn bè và những người quen. Nếu quý vị giống như tôi, khi mùa Giáng sinh qua đi, quý vị sẽ bỏ hết những tấm thiệp vào thùng rác. Nhưng chí ít là chúng ta cũng đọc qua những lời cầu chúc, những thông điệp bên trong cánh thiệp và liếc qua quang cảnh Chúa giáng thế ở mặt trước những tấm thiệp.

Những hình ảnh trình bày thật đáng yêu này có vẻ như bình an và trật tự - không giống như cuộc sống chúng ta. Có chuồng bò, trẻ thơ, đôi vợ chồng trẻ, mục đồng, gia súc và các Đạo sỹ (Làm thế nào mà những "vị khách quý phái" kia lại đến nơi nhanh thế nhỉ?) Mỗi nhân vật đóng một vai trò trong toàn bối cảnh này, cứ như thể được một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp sắp xếp bố cục ở xưởng chụp ảnh vậy. Nhưng chúng ta hãy cứ để việc trình bày hình ảnh cho những nghệ sỹ, những người có thông điệp riêng của mình để bày tỏ.


Ngay cả một người bình thường đọc bài Tin mừng ngày hôm nay cũng nhận ra rằng thánh Matthêu không vẽ một bức tranh bình dị và trật tự trong trình thuật của ngài. Nhưng đó chẳng có gì là không đúng cả. Ngài có vẻ như muốn dựng lên cảnh tượng như thế để phá vỡ những suy nghĩ thoải mái và sự bình lặng của chúng ta, để có thể kéo chúng ta ra khỏi sự mộng tưởng và giúp chúng ta lắng nghe tin mừng. Cuối cùng thì, việc sinh ra được cho là đã diễn ra nơi chuồng bò lừa (hay hang đá), làm sao có thể thoải mái tiện nghi cho đức Maria được? Như chúng ta đã nói với nhau (vào đêm Giáng sinh) rằng mục đồng là những người bị tôn giáo và xã hội xem thường. Tuy nhiên, họ vẫn có vai trò trong câu chuyện này.


Hôm nay chúng ta có những Đạo sỹ, những người này cũng không thích hợp trong một tấm thiệp thánh. Trong tranh vẽ, các Đạo sỹ thường mặc những trang phục của vua chúa, mang những món quà quý giá cùng với đoàn tùy tùng xứng với bậc đế vương. Nhưng những vị khách này lại hoàn toàn ngược lại, chẳng giống vua chúa tí nào. Những vị Đạo sỹ trông giống những nhà chiêm tinh hơn, giống như những mục tử vi quý vị thường đọc thấy ở những trang cuối trong một số tờ báo. Họ nhìn sao và đưa ra những dự đoán. Chúng ta sẽ thấy buồn cười về những bản đối chiếu hiện đại của họ, khi đọc to những lá tử vi ngày nay. Nhưng không mấy ai trong chúng ta, những người siêng năng đi lễ lại rất xem trọng những thứ này. Vì thế, những ai ưa thích cách trình bày của thiệp Giáng sinh sẽ thấy câu chuyện này quả là lộn xộn.


Theo lòng đạo đức thời Chúa Giêsu, người Dothái trung thành, các Đạo sỹ thuộc tầng lớp thấp kém trong nấc thang tôn giáo và xã hội, cũng như những mục đồng. Những người nhiệt thành được nói cho biết là nên tránh gặp những Đạo sỹ, vì họ bị xem là những người thờ ngẫu tượng. Họ có vẻ cũng không sáng sủa gì cho mấy! Điều gì đã khiến những Đạo sỹ này đến với vị vua Hêrôđê đói khát quyền lực này để hỏi về nơi mà vị vua mới đã sinh ra? (Vua dân Dothái mới sinh ở đâu?) Phải chăng họ không hề biết rằng vua Hêrôđê tẩy trừ bất cứ ai đe dọa đến ngai vàng của ông sao? Hêrôđê giả bộ quan tâm và nói với các vị Đạo sỹ:
"Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." Đó là những gì mà Hêrôđê hoàn toàn không có ý định thực hiện - bái lạy. Thay vì vậy, ông ta đã tàn sát những bé trai mới sinh ở Bêlem để loại trừ bất kỳ nguy cơ cạnh tranh nào đến ngai vàng của ông ta.

Nếu một người Dothái giáo trở lại đạo Công giáo nói về bản trình thuật này, họ có thể sẽ cố gắng kiểm chứng lại câu chuyện. Tại sao không? Có thể họ nghe thấy âm vang của tin mừng trong câu truyện, và thay vì đưa nó ra khỏi truyền thống, thì họ sẽ quyết định để câu truyện này trong truyền thống vì câu chuyện này phản ánh chính tin mừng mà họ ôm ấp.


Từ "Hiển Linh" nguyên nghĩa tiếng Hilạp là "biểu lộ, khải hiện" hay "tiền hiện". Trong bài tin mừng hôm nay, hiển linh không duy ám chỉ đức Giêsu là ai mà còn cho thấy trước sứ điệp tin mừng. Nếu như các mục đồng và những dấu chỉ huyền diệu từ Phương Đông được chào đón trong buổi đầu câu chuyện cuộc đời của đức Giêsu, thì ai còn có thể bị loại trừ ra bên ngoài? Giáo hội tiên khởi đã có tất cả mọi "lớp người" trong cộng đoàn chứ không giống với Giáo hội chúng ta ngày nay. Liệu có ai dám loại trừ một người nào hay một nhóm nào ra khỏi cộng đồng, nếu như các mục đồng và những nhà Đạo sỹ đã được ghi danh ngay đầu câu chuyện về đức Giêsu?


Hãy nhìn quanh cộng đoàn phụng vụ hôm nay. Ai đang ở trong? Có ai bị loại ra ngoài, hay bị đối xử như hạng hai trong chúng ta không? Có thể là một cuộc "tỏ lộ" cho chúng ta nếu chúng ta ngồi xuống bên cạnh người kém nổi bật hay những thành viên nhỏ bé của cộng đoàn và lắng nghe cảm nghiệm của họ như thế nào về việc là một thành viên của xứ đạo chúng ta. Liệu họ có thấy đó là một "chính sách mở cửa", hay họ bị loại trừ? Hiển linh là một đại lễ của Giáo hội và đó cũng là một đại lễ về căn tính của chính Giáo hội. Vậy đâu là "tỏ lộ" về xứ đạo của chúng mà đại lễ hôm nay cho thấy và thúc bách chúng ta thực hiện?


Câu chuyện của các Đạo sỹ là bản tường thuật về một hành trình. Có những người đang thắc mắc, tìm kiếm thêm trong cuộc đời họ. Nếu họ mãn nguyện với những sự việc vốn dĩ như thế, những Đạo sỹ sẽ không lên đường. Nhưng, như chúng ta đã biết, họ lên đường với ánh sao trong đêm tối. mọi sự biến chuyển trong đời họ, vì Thiên Chúa đã cho họ thấy một ánh sáng. Họ không nhất thiết phải theo ánh sáng đó. Họ có quyền chọn ở yên đó và mãn nguyện với địa vị của họ. Vẫn luôn như thế, Thiên Chúa đi bước trước. Lúc nào Chúa cũng làm vậy. Sự ngạc nhiên mà trình thuật hài nhi này muốn tỏ ra là Thiên Chúa không muốn chọn chỉ một vài người và những người công chính mới nhận ra ánh sang mà Ngài đã nhóm lên giữa đêm đen. Có lẽ, đó là cách mà chúng ta thường làm. Nhưng, vòng tay Chúa rộng hơn vòng tay của chúng ta rất nhiều, và Thiên Chúa ôm toàn thể vũ trụ vào lòng. Vì thế, các mục đồng được hướng dẫn tới nơi Hài nhi Giêsu, cả các Đạo sỹ và chúng ta nữa.


Như các Đạo sỹ, chúng ta cũng là những người đang trên cuộc hành trình. Đó là nguyên do chúng ta tự họp nơi đây đề làm việc thờ phượng. Nếu có thời gian, mỗi người chúng ta có thể kể về câu chuyện đức tin của riêng mình. Tường thuật về hành trình của chúng ta. Chúng ta có thể không nhớ được ngày ấy, nhưng Thiên Chúa đã khởi sự nơi cha mẹ chúng ta, nơi cha mẹ đỡ đầu đã đưa chúng ta đến giếng rửa tội. Vì họ, chúng ta bắt đầu hành trình đến với đức Kitô. Những người khác trong chúng ta, đến với đức tin khi đã trưởng thành, được vẽ lên bởi ánh sáng đã chiếu vào bóng tối của chúng ta nhờ những chứng tá và mẫu gương của một số người đặc biệt trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta nhìn thấy ánh sáng chiếu qua họ, chúng ta đứng lên và biến cuộc đời mình thành nguồn nước trao ban sự sống. Chúng ta không thỏa mãn những gì chúng ta là và quyết định lần theo "ánh sao" xuất hiện cho chúng ta. Như những Đạo sỹ, chúng ta khởi đầu cuộc hành trình dẫn chúng ta đến với đức Kitô.


Đây là cuộc hành trình mà nhiều người cần thực hiện. Như trẻ nhỏ học cách khởi đầu đức tin của mình từ cha mẹ và các lớp giáo lý; hay như người lớn, học qua suốt thời gian dự tòng. Họ biết cách trả lời câu hỏi căn bản về đức tin của mình và có thể là những người mộ đạo. Thế nhưng, ở cấp độ đó chỉ như một thái độ tôn giáo chứ không phải là tương quan đức tin thực sự. Họ biết về Thiên Chúa nhưng không thể được nói cho biết Chúa - không phải một Thiên Chúa yêu thương và đại lượng mà đức Giêsu đến để mạc khải cho chúng ta biết. Họ còn phải trải qua một hành trình dài để khám phá ra một Thiên Chúa dịu dàng và hay động lòng trắc ẩn, được bộc lộ cho chúng ta qua đức Giêsu. Mặc khải chưa dừng lại, nó vẫn đang dần hé mở. Chúng ta, giống như các vị Đạo sỹ, có sẵn lòng tiếp tục hành trình hôm nay không, hay chúng ta bị mắc kẹt nơi cuộc sống đức tin của chúng ta?


Quý vị đã bao giờ nghe người ta nói rằng, họ khát khao có được một đức tin như họ có thời còn nhỏ? Vâng, chúng ta là những người lớn và không còn nữa môi trường an toàn và ấm áp mà mỗi chúng ta có thời còn nhỏ. Nhưng, chúng ta phải đối diện với hàng đống những vấn đề và thử thách - vài người trong chúng ta phải đối diện với những vấn đề quá lớn. Thế nhưng, chúng ta vẫn được ánh sáng Chúa soi dẫn luôn và chúng ta vẫn sẵn lòng tiến lên trên cuộc hành trình của mình theo bất cứ nẻo đường nào Chúa muốn gọi chúng ta theo. Trên hết, như những nhà Đạo sỹ, chúng ta đang tìm kiếm và tin tưởng vào ánh sáng chúng ta đã nhìn thấy là đức Kitô. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP

Lm Hoàng Vinh,OP chuyển ngữ

CHÚA HIỂN LINH
Mt 2, 1 - 12

Nơi mỗi người ít nhiều cũng có những tâm tình tôn giáo.
Tuy nhiên, không phải ai cũng đón nhận Thiên Chúa là Đấng tối cao trong lòng họ.
Phần mình, người tín hữu cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa qua thiên nhiên diệu kỳ, qua dòng lịch sử nhân loại và tôn giáo, và nhất là qua mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể.

I. QUA THIÊN NHIÊN

Thánh Mátthêu đề cập đến ánh sáng của Thiên Chúa đã bừng lên qua hiện tượng ánh sao. "Chúng tôi thấy ngôi sao của Người xuất hiện" (Mt 2, 2).

Theo ánh sao chỉ dẫn, các nhà chiêm tinh đã lên đường tìm kiếm Đức Vua của dân Do Thái. Rất có thể, ba nhà chiêm tinh chưa hình dung ra ngôi vị Thiên Chúa nơi Hài Nhi Giê-su. Có chăng, họ mới mường tượng về một vị vua mới ra đời và họ phải đến triều bái theo nghi thức ngoại giao. Nhưng dù sao, sự hiện diện của ba nhà chiêm tinh bên máng cỏ Bê-lem cũng đủ nói lên phép ứng cử ngay lành và thiện chí khát khao kiếm tìm chân lý và sự thật nơi các ngài.


Thiên Chúa đã dùng hiện tượng thiên nhiên (ánh sao), đã dùng ngôn ngữ, cách sử thế của con người (vị vua) để từng bước tiệm tiến mạc khải về Người cho nhân loại.


Đời người được tiếp xúc với môi trường thiên nhiên: ánh bình tỏa rạng báo hiệu một ngày mới, mặt trời lên chiếu sáng và mang lại hơi ấm, ánh trăng soi tạo cảnh sắc cho đêm, ngọn gió mát thổi đến mang lại hơi thở cho sự sống làm thanh thỏa lòng người, hạt mưa rơi làm phát sinh mầm sống mới...Tất cả những hiện tượng thiên nhiên ấy như đang nhắc nhở cho con người ý thức về bàn tay quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.


Tiếc rằng, đang hưởng thụ hồng ân Chúa qua thiên nhiên nhưng không ít người lại tỏ ra vô ơn phủ nhận Thiên Chúa. Xem ra, những gì hưởng thụ miễn phí thì người lại không biết trân trọng nguồn gốc.


Mong sao, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều là một câu hỏi để người ta tìm về cội nguồn sự sống. Xa hơn nữa, họ tìm về Đấng Tạo Hóa. Về điều này, người tín hữu phải nêu gương trước tiên với những khắc khoải gặp gỡ Ngôi Lời Nhập Thể. Lịch sử là những ghi nhận diễn biến tôn giáo nơi con người.


II. LỊCH SỬ

Kể từ ngày thảm họa tội lỗi làm mất đi vẻ đẹp nguyên tuyền Thiên Chúa ban cho con người, dân Chúa rơi vào cảnh lầm than "bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân" (Is 60, 2).

Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn dõi theo con người và không để họ rơi vào vô vọng. Khi tình thương đã đến đỉnh điểm, Thiên Chúa cho bừng lên ánh sáng, vinh quang của Người "như bình minh chiếu tỏa" (Is 60, 1) chiếu soi lòng người.


Ngày ấy, để gặp gỡ Thiên Chúa, dân Chúa đi về phía ánh sáng, vua chúa trần gian phải hướng về ánh bình minh (x Is 60, 3). Từ muôn nơi, con trai, con gái của Thiên Chúa quy tụ loan truyền lời ca tụng Thiên Chúa, cùng làm nên một cộng đoàn dân thánh: mặt mày rạng rỡ, lòng dạ hớn hở tưng bừng...


Ánh sáng bừng lên, bình mình đã ló dạng, Thiên Chúa đã đi vào lịch sử loài người nhưng trong thực tế rất nhiều người vẫn còn thơ ơ lãnh đạm, thậm chí khước từ Người. Ước mong sao, người tín hữu cảm nhận được ánh sáng chúa đang chiếu soi tâm hồn của họ, cảm nhận được ánh bình minh của Chúa đang là những tia sáng hy vọng hướng dẫn cuộc đời họ, trở nên dấu chứng niềm tin cho nhân loại.


III. NGÔI LỜI NHẬP THỂ

Lịch sử cứu độ là cả một lịch sử khát khao Đấng Cứu Thế. Vậy mà Cứu Thế đã đến nhà mình nhưng người nhà không đón nhận (x.Ga 1,10-14). Sao thế?

- Sự cực đoan nơi con người: Khi nghe các nhà chiêm tinh nói về vị vua dân Do Thái ra đời, vua Hê-rô-đê đã cho triệu tập các kinh sư và các thượng tế để trao đổi. Về lý thuyết, tất cả họ đều biết rất rõ Vị Lãnh Tụ chăn dắt It-ra-en sẽ ra đời tại Bê-lem. Trong lòng tin, thì Vị Lãnh Tụ này không khớp kinh nghiệm của họ nên họ khó chấp nhận một sự tương phản. Bê-lem nhỏ bé không thể sánh với Giê-ru-sa-lem. Bê-lem không thể là nơi sinh ra của một vị vua được.


Sự tự phụ nơi con người: Về kiến thức tôn giáo, những kinh sư và những thượng tế là những người thông thái, là những bậc thầy trong dân Do Thái, nhưng về lòng tin thì xem ra họ mới chỉ biết một mớ lý thuyết chứ chưa hề biết về Thiên Chúa nhập thể làm người. Thế mới hay, sự duy lý đã khóa chặt con người trước mạc khải của Thiên Chúa: người có đạo chưa chắc đã có Chúa; người có Chúa rồi sẽ có đạo..


- Lòng gian ác: Thông tin về một vị vua Do Thái ra đời đã làm cho vua Hê-rô-đê run sợ về sự an nguy ngai vàng của ông. Từ đó, mọi sự tiếp đón của ông đối với những nhà chiêm chiêm tinh chỉ là trò giả hình, gài bẫy, mưu đồ giết hại Hài Nhi Giê-su; bằng chứng là sau đó ông đã hạ lệnh giết sách các hài nhi từ hai tuổi trở xuống. Rõ ràng lòng dạ độc ác của con người đã ngăn lối họ đến với Thiên Chúa.


Chúa đã đi vào trần gian và mang tên Giê-su nhưng sự cực đoan, tự phụ và lòng gian ác đã khép kín tâm hồn người ta, ngăn bước họ đến với Chúa. Thánh Phao-lô kinh nghiệm Thiên Chúa đã dùng Thần Khí mà mạc khải mầu nhiệm: "Trong Đức Ki-tô và nhờ Tin Mừng các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người DoThái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Chúa hứa" (Ep 3, 5).


Như thế, nhờ Chúa Thánh Thần Thiên Chúa đã tỏ mình nơi Đức Kitô. Trong Đức Kitô, muôn dân được hiệp nhất. Ước mong người tìn hữu mở lòng đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, xin Người dẫn đến Chúa Giê-su. Nơi Chúa Giê-su, tất cả mầu nhiệm Thiên Chúa được tỏ bày.


KẾT

Thiên Chúa đã đến trần gian và từng buớc tiệm tiến tỏ mình cho nhân loại qua lịch sử, qua thiên nhiên, nhất là qua Ngôi Lời Nhập Thể.
Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng đã tôn trọng sự tự do nơi con người và con người đã sử dụng tự do để thuận theo hoặc khước từ Người.
Cách riêng người tín hữu sẽ chọn lựa đi về phía ánh sáng để thờ lạy Chúa là chân lý và sự thật. Tin vui cứu độ phải được loan báo cho toàn dân.

Lm. JB Nguyễn Minh Phương, CSsR

VINH QUANG ĐÍCH THỰC CỦA THIÊN CHÚA
Mt 2, 1 - 12


Tôn giáo nào thì cũng muốn cho vị thần linh mình tôn thờ được hiển trị. Đó là một tình cảm tôn giáo đáng quí nhưng cũng thật đáng sợ, vì chính nó đã từng là nguyên nhân của biết bao cuộc bắt bớ hay triệt hạ phe đối nghịch. Lịch sử đã ghi nhận không ít cuộc chiến tranh tôn giáo. Hiển Linh là Chúa được biểu dương, là biểu lộ quyền năng của Ngài ra bên ngoài, vì hình như hình hài một hài nhi bé bỏng không xứng với Ngài? Có một thời tôi đã từng nghĩ như thế: Có thế chứ... phải là những vị vua tới thờ lạy ngài, tới cống tiến ngài những lễ vật đắt giá mới xứng; phải có những ánh sao lạ để cả thiên hạ phải trầm trồ! Và tôi lấy làm hả dạ. Tôi có tinh thần tôn giáo sốt sáng chẳng?

Thật ra câu chuyện về các nhà chiêm tinh (thường được dân có đạo nâng lên hàng vua chúa cho nó oai) đến bái lậy Hài Nhi Giê-su chỉ được Phúc Âm Mát-thêu ghi lại với chủ đích, như ông vẫn quen làm nhiều lần, là để khảng định: "thế là ứng nghiệm" việc Hài nhi ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê... việc ngài trở về từ Ai-cập... như những gì đã từng được các tiên tri loan báo. Dầu câu chuyện mang rất nhiều tính truyền thuyết, tôi nghĩ nó không chỉ đơn thuần là để nâng cao thứ tình cảm tôn giáo nói trên.


Hài Nhi mới sinh tại Bê-lem Hiển Linh, nhưng hiển linh điều gì? Đâu là vinh quang đích thực của ngài?


Ba nhà chiêm tinh (hay đạo sĩ) là những con người có hiểu biết và chuyên tìm tòi những qui luật của trời đất. Các ông biết về một vị nào đó rất quan trọng mới xuất hiện và các ông đi tìn ngài. Theo lô-gic, nhân vật này chắc chắn phải là một vị vua và phải tìm thấy trong chốn cung điện. Và thế là họ tìm tới Giê-ru-sa-lem là kinh thành của vương triều Da-vit; nhưng ở đó họ chỉ gặp được Hê-rô-đê, con người của quyền lực và mưu mẹo. Chỉ có 'ngôi sao' mới có thể dẫn họ tới một nơi không ngờ: làng quê Bê-lem hẻo lánh, và tìm thấy một hài nhi với thân mẫu trong sự đơn sơ và nghèo hèn. Chúng ta tất cả đều biết ngôi sao đó chính là biểu tượng của niềm tin vào Tin mừng. Chỉ có Tin Mừng của đức Giê-su Ki-tô mới chỉ cho chúng ta tới gặp được một Thiên Chúa, không phải trong vinh quang của quyền uy và đầy công thẳng, mà là trong một diện mạo thơ nhi quá gần gũi: Thiên Chúa của lòng từ nhân và hay thương xót... cứu độ chứ không phải một Thiên Chúa luận phạt. Nếu ba nhà chiêm tinh phải từ bỏ lô-gic thông thái của họ (điều này không dễ mấy đâu) để có thể sấp mình bái lậy một hài nhi nghèo hèn, thì mọi người, kể cả tôi và bạn, (nhất là khi càng cho mình là thông minh chính trực) còn cần phải làm một cuộc cách mạng trong niềm tin để có thể bái lạy vinh quang Thiên Chúa trong sự hiền lành, từ nhân và hay thương xót.


Câu truyện còn cho tôi thấy có sự đối kháng thâm sâu giữa một bên là uy quyền thống trị và trừng phạt (điển hình là vua Hê-rô-đê) với bên kia là sự yếu đuối ẩn dật của một Hài Nhi bé bỏng nép mình bên lòng mẹ. Sự công thẳng có sức mạnh của nó và xem ra không thể đội trời chung với lòng trắc ẩn nhân ái. Uy quyển của bạo vương Hê-rô-đê không thể được chia sẻ với Tân Vương cứu độ mới sinh ra. Ở đâu có sự công thẳng ở đó không thể có chỗ cho lòng trắc ẩn thương xót, và ngược lại. Sự công thẳng nổi cộm như một quyền lực thống trị trong khi lòng nhân ái lại luôn tỏ ra quá yếu đuối ẩn dật. Chính vì thế mà khi đề cao lòng trắc ẩn thương xót thì nhiều người lại tỏ ra e dè sợ sệt. Họ lo sợ sự hợp lý đầy uy quyền của 'lành thưởng dữ phạt' sẽ bị phá đổ, và thế là họ rắp tâm 'tiêu diệt' lòng thương xót, ít là trong hiểu biết và suy nghĩ của họ. Thiên Chúa giáng trần đã chọn hình hài của một thơ nhi yếu đuối ẩn dật để biểu lộ lòng xót thương cứu độ loài người quả là điều thích hợp... có điều Ngài phải chịu sự toan tính tiêu diệt của bạo vương quyền uy thì cũng là tự nhiên thôi.


Lạy Hài Nhi đang ngủ yên trong vòng tay âm yếm của Mẹ, xin cho con dặt cược toàn bộ cuộc sống con trên sự nhỏ bé, yếu đuối của lòng thương xót Chúa. Chính những lúc tâm hồn con lo sợ cuống quýt trước quyền lực ghê gớm của sự công thẳng Chúa, xin đưa con vào vòng tay hiền mẫu để con cũng có được giấc ngủ của an bình trong tin tưởng phó thác vào lòng thương xót. Xin che chở để con không bao giờ bị sự công thẳng Chúa nhấn chìm trong lo âu sợ hãi. Amen

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

HÀNH TRÌNH "ĐÔNG DU" CỦA CÁC ĐẠO SĨ
Mt 2, 1 - 12

Khi đọc tác phẩm Tây Du Ký của nhà văn Ngô Thừa Ân, nhiều người tỏ ra cảm phục trước ý chí vượt khó diệu kỳ của thầy trò Đường Tăng. Quả vậy, để đến được núi Tây Thi thỉnh Kinh Phật, họ đã phải trãi qua một cuộc hành trình dài với bao nhiêu chông gai thử thách. Đường xa vạn dặm, lại thêm vô vàn cạm bẫy của đủ thứ yêu ma quỉ quái khiến cho cả 4 thầy trò nhiều phen muốn bỏ cuộc. Hành trình "Tây du" đó thực sự là một cuộc thử thách của cả lý trí (biểu tượng qua nhân vật Tôn Ngộ Không) lẫn con tim (biểu tượng qua nhân vật Tam Tạng).

Đọc lại trình thuật Tin mừng Mathêu, chúng ta thấy hành trình "Đông du" của ba nhà đạo sĩ cũng không kém phần gian truân. Nhưng đó cũng là một hành trình rất đẹp. Để có thể triều yết Đấng mà họ gọi là Đại Vương, Vua Dân Dothái, họ đã phải vượt qua một chặng đường dài thăm thẳm. Dĩ nhiên đây là một cuộc hành trình có thật, chứ không phải do tác giả hư cấu như hành trình của thầy trò Đường Tăng. Ở đây chúng ta thấy hành trình của các đạo sĩ quả là một hành trình của lý trí, của con tim và của đức tin.


- Hành trình của các đạo sĩ, hành trình của lý trí khám phá:


Là những nhà Thiên văn, các nhà đạo sĩ đã biết dùng những kiến thức của mình để khám phá những dấu chỉ của điềm trời, đặt biệt là ánh sao chiếu mệnh. Họ đã biết sử dụng chất xám để nghiên cứu các hiện tượng lạ trong thiên nhiên, trong vũ trụ. Và chỉ có họ mới phát hiện ra ánh sao lạ, bởi lý trí của họ đã được dùng đúng nơi đúng chổ, nhằm phục vụ cho chân lý, chứ không phải để phục vụ cho danh lợi thú đời này như Hêrôđê, như các Luật sĩ và Biệt phái. Đặc biệt là trong thời đại ngày hôm nay, rất nhiều người sử dụng lý trí của mình không đúng mục đích. Thậm chí còn sử dụng để phục vụ cho những ý đồ đen tối, thay vì để phục cho công lý, cho sự thật và đem lại lợi ích cho đồng loại. Các đạo tặc tìm kiếm những chiêu thức nhằm lường gạt và hãm hại người khác. Các gian thương tìm cách làm hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng; các tin tặc tạo ra các loại vi rút máy tính phá hoại các chương trình, các dữ liệu; các nhà khoa học vô lương tâm sáng chế ra các thứ vũ khí huỷ diệt hàng loạt....


Trong bối cảnh xã hội như thế, các nhà đạo sĩ là điểm son cho chúng ta noi theo trong việc sử dụng đúng đắn lý trí của mình.


- Hành trình của các đạo sĩ, hành trình của con tim khao khát:


Con tim khao khát tìm kiếm Chân Lý. Con tim thao thức dấn thân lên đường tìm gặp Sự Thật. Điều này không có nơi Hêrôđê và có rất ít nơi dân thành Giêrusalem và những người Luật sĩ, Biệt phái.


Vì khao khát tìm kiếm chân lý nên họ sẵn sàng bỏ lại tất cả: gia đình vợ con, quê hương xứ sở, nhà cửa sự nghiệp,... để lên đường theo ánh sao lạ. Vì khao khát kiếm tìm sự thật, nên họ bất chấp tất cả: đường xá hiểm nguy, núi rừng cách trở, thử thách đợi chờ. Thật đáng khâm phục. Họ ra đi mà không biết sẽ đi đến đâu. Họ ra đi mà không biết ngày nào trở lại, tựa như Abraham ngày xưa vậy. Chính tình yêu đối với vị "Chánh Vương" là động cơ thôi thúc họ thượng lộ khẩn trương. Đúng như lời quả quyết của thánh Phaolô sau này: "Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi".


- Hành trình của các đạo sĩ, hành trình của đức tin soi dẫn:


Khi thấy sao lạ xuất hiện, đức tin đã mách bảo cho các ông biết có Đại Vương, có Đấng Cứu Tinh xuất hiện. Khi ánh sao biến mất, đức tin đã chỉ lối cho các ông tìm đến với Giêrusalem - Kinh đô của Kinh Thánh để được tham vấn. Khi đối diện với một hài nhi nghèo hèn nằm trong máng cỏ, theo lý trí tự nhiên không ai dám mạnh dạn tuyên xưng đó là Con Thiên Chúa, nhưng đức tin đã soi sáng cho các ông nhận ra đó chính là Đấng Cứu Thế muôn dân đang trông đợi. Và cũng chính đức tin đã biến đổi cuộc đời họ. Họ đã trở thành những vị tông đồ đích thực của Đấng Thiên Sai Giêsu. Theo khẩu truyền, ba nhà đạo sĩ đã đi giảng đạo tới tận trời Tây, và hiện nay một ngôi mộ được coi là của ba nhà đạo sĩ ấy, vốn rất được nhiều người kính viếng ở thành Phố Cologne, bên bờ sông Rhin, nước Đức.


Như vậy, rõ ràng hành trình của các đạo sĩ không chỉ là hành trình của lý trí khám phá, của con tim khao khát, mà còn là hành trình của đức tin soi dẫn. Vì nếu không có đức tin soi dẫn thì có lẽ họ đã lạc lối, và bỏ cuộc khi gặp thử thách. Nếu không có đức tin mách bảo thì có lẽ họ đã không nhận ra một trẻ thơ nghèo hèn là một bậc Đế Vương, là một vị Cứu Chúa. Và nếu không có đức tin soi sáng, chắc chắn họ không dại gì phải sụp lạy trước một hài nhi bé bỏng yếu ớt, càng không dại gì phải uổng phí những lễ vật quí báu của mình, nếu họ không tin nhận đó là Vị Cứu Tinh của họ. Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, từ ngữ "sụp lạy" ám chỉ một sự qui phục chỉ dành cho Thiên Chúa.


Phần tôi thì sao ? Tôi đang sử dụng lý trí của mình, kiến thức của mình thế nào ? Con tim của tôi đã đặt đúng chổ chưa ? Tôi thường yêu mến, thường khao khát những gì ? Có phải là "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần"; hay chỉ là tiền tài, danh vọng, sắc dục và những thú vui hưởng thụ đời này? Trong hành trình dương thế của tôi, đức tin đóng vai trò nào ? Tôi có coi trọng và biết cầu xin ơn đức tin mỗi ngày, nhất là trong những lúc gặp thử thách, gặp bế tắc trong cuộc sống hay không ?


Ước gì gương của ba nhà đạo sĩ luôn được chúng ta soi nhìn. Để trong cuộc lữ hành trần thế, chúng ta luôn đi đúng đường, đúng hướng và đạt tới cùng đích mà chúng ta mong ước. Đó là Nước Chúa, nơi Đức Kitô đang đợi chờ chúng ta. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

ÁNH SAO SOI ĐƯỜNG
Mt 2, 1 - 12

Từ ngàn xưa, Do Thái đã được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn làm dân riêng của Ngài. Do Thái như là trưởng tử trong gia đình của Thiên Chúa. Do Thái được yêu thương, được nâng niu, được chiều chuộng một cách hết sức đặc biệt. Trong ý định ngàn xưa, Thiên Chúa muốn Do Thái được vẻ vang, được vinh quang. Vinh quang dành cho dân riêng - dân được chọn ấy - hôm nay được nhắc nơi ngôn sứ Iasia:

Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi.

Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;
còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem,
tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi:
con trai ngươi từ phương xa tới,
con gái ngươi được ẵm bên hông.
Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ,
lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ,
vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,
của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.
Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha:
tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,
đều mang theo vàng với trầm hương,
và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa. (Is 60, 1-60)

Thế nhưng, vì bội nghĩa vong ân, nhiều lần nhiều lúc Thiên Chúa đã oán phạt dân riêng mà Ngài đã chọn. Phạt thì phạt, giận thì giận nhưng Thiên Chúa không đành cắt đứt nghĩa tình của Ngài. Và rồi, bằng nhiều hình thức, nhiều cách, Thiên Chúa đã tỏ lộ tình yêu ấy.


Trong cuộc sống thường nhật, cái gì mà lộ ra trước mắt người ta mà người ta không mất công để tìm kiếm thì những thứ ấy dường như không có giá trị và người ta cũng không trân trọng. Với những gì mà người ta cất công tìm kiếm, khi có được thì thái độ, tâm tình của họ khác hẳn. Họ sẽ hết sức vui mừng, mất ăn mất ngủ với những gì mà họ có được sau những ngày dài vất vả.


Đơn giản nhất là sau khi miệt mài lao động, sau khi miệt mài vất vả thì người thợ lặn mới có thể tìm ra được viên ngọc quý. Ngọc quý nằm sâu tít dưới đáy biển chứ không nằm lộ thiên để người ta nhặt về làm của riêng cho mình.


Thiên Chúa cũng vậy, Thiên Chúa có đó, Thiên Chúa đã mạc khải về Ngài nhưng chỉ những ai thành tâm tìm kiếm mới được gặp Ngài.


Có những lúc Thiên Chúa xuất hiện chỗ này hoặc chỗ khác, có những lúc Thiên Chúa ẩn mình. Có những lúc Thiên Chúa nói trực tiếp, có những lúc Thiên Chúa nói gián tiếp. Có những lúc người ta cảm giác như Thiên Chúa đi đâu đâu rồi nhưng thực sự Thiên Chúa vẫn có đó trong thế gian này.


Việc Con Thiên Chúa cất tiếng khóc chào đời để cứu độ nhân loại cũng vậy, đâu phải một ngày một bữa mà Giêsu xuống thế gian. Một chặng đường dài của lịch sử, Con Một Thiên Chúa đã được tiên báo qua miệng của các ngôn sứ, qua những người trung gian của Thiên Chúa.


Trở về với cái bối cảnh Bêlem ngày nào, chúng ta sẽ thấy rõ chuyện này.


Đấng Mêsia được loan báo trong Cựu Ước. Sự xuất hiện của Đấng Mêsia đã làm đảo lộn cả thế giới và rồi mỗi người một cách nghĩ, mỗi người một cách kiếm tìm. Chỉ biết là Mêsia đến nhưng không biết đến ngày nào và đến ở nơi đâu. Các ngôn sứ hình như có nói về cái mảnh đất nhỏ bé Bêlem nhưng mấy người chịu tin vì Bêlem là cái chi chi để mà Mêsia đến.


Bêlem ngày nào đó cách đây hơn hai ngàn năm được cái vinh hạnh là đón Đấng Cứu Thế trần gian cất tiếng khóc chào đời. Phải nói rằng Bêlem chẳng là gì cả so với những vùng đất tên tuổi. Bêlem nhỏ bé đến độ chẳng ai thèm để ý đến, thèm ngó ngàng đến ấy vậy mà lần này Bêlem được nổi tiếng.


Cũng để thoả mãn trí tò mò, để an tâm hơn với cái lời đồn đại vua dân Do Thái sẽ xuất hiện thì vua dân Do Thái hỏi các thượng tế và kinh sư. Tưởng các thượng tế và kinh sư không biết chuyện này nhưng các thượng tế và kinh sư trả lời một cách mau mắn câu hỏi của nhà vua về chuyện Đấng Cứu Độ trần gian cất tiếng khóc chào đời: "Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: "Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời." Trả lời quá nhanh với câu hỏi hóc búa ! Cũng đúng thôi vì những kinh sư và thượng tế là những người nghiên cứu rất kỹ về Đấng Mêsia và ngong ngóng Đấng Mêsia ngự đến.


Vốn dĩ kém lòng tin cộng với sự lo lắng về ngai vàng của mình Hêrôđê bí mật mời các nhà chiêm tinh đến hỏi cho ăn chắc. Ông không thể tin được Mêsia đến ngay cái thời của ông và sợ nhất là vua dân Do Thái chào đời ấy sẽ làm cho ông mất ngai thế là ông làm ra cái vẻ tốt bụng, ông đã mời các nhà chiêm tinh đến để hỏi và còn làm bộ làm tịch nếu như gặp "Người" thì chỉ cho vua biết để vua "bái lạy".


Sau khi rời khỏi dinh thự Hêrôđê thì ánh chỉ đường cho những nhà chiêm tinh lại xuất hiện để chỉ đường cho các ông. Nhờ ánh sao soi đường các ông đã đến được nơi cần đến. Các ông đã gặp Hài Nhi và thân mẫu của Hài Nhi. Kèm theo lời chào, lời thăm hỏi đó là lễ vật dâng lên Hài Nhi.


Một lần nữa, các nhà chiêm tinh được báo cho biết con đường để đi về sau khi gặp Hài Nhi. Các nhà chiêm tinh phải đi về bằng con đường khác chứ không được đi về bằng cái con đường cũ mà các ông đã đi.


Các nhà chiêm tinh, Thánh Kinh không nhắc đến là người nào, dân tộc nào nhưng có lẽ họ là dân ngoại. Họ không theo tôn giáo nhưng họ say mê nghiên cứu vũ trụ, họ nghiên cứu về cuộc đời. Căn cứ vào những gì được báo mộng, căn cứ vào những diễn tiến trong cuộc đời và họ đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian. Khởi đầu chắc có lẽ cũng do tò mò, do muốn tìm hiểu sự thật xem có đúng với những gì được tiên báo không nhưng mọi việc diễn ra trước mắt của các ông không có gì có thể chối cãi được. Hài Nhi Giêsu và Mẹ Ngài sờ sờ bằng xương bằng thịt hẳn hoi. Thấy vậy và ắt hẳn các ông đã tin.


Mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa Các nay không còn ở trong sách vở, ở trong lý thuyết, ở trong những điều tiên báo nữa mà là sự thật. Sự thật về Ngôi Hai đã được mạc khải nhờ Tin Mừng. Sự thật ấy, việc mạc khải ấy đòi hỏi sự cộng tác, sự tìm tòi của con người. Phần Thiên Chúa, Thiên Chúa từ ngàn xưa đã có và hiện tại cũng đang có. Phần con người, con người phải mất công đi tìm để đáp lại tiếng của Ngài.


Thánh Phaolô trong thư của Ngài gửi cho giáo đoàn Êphêsô mới nhắc nhớ chúng ta điều ấy: "Anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây. Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Ki-tô thế nào. Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa". Ep 3, 2-3a5.6


Qua mọi thời, Thiên Chúa vẫn dùng Thần Khí và các thánh Tông Đồ và các ngôn sứ để mạc khải về Ngài. Chúng ta được may mắn hơn dân Do Thái ngày xưa là ngày nay chúng ta được mạc khải quá rõ ràng về Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn hiện ra bằng cách này hay cách khác, bằng ánh sao này hay ánh sao khác trong cuộc đời chúng ta là những biến cố trong cuộc đời chúng ta. Chuyện quan trọng là chúng ta có nhận ra ánh sao soi đường ấy hay không mà thôi.


Giữa biết bao nhiêu con người thời của Hêrôđê, thời của các thượng tế và kinh sư, thời của các nhà chiêm tinh và của biết bao nhiêu người Do Thái thì chỉ có những nhà chiêm tinh đã được nhận thấy Thiên Chúa một cách nhãn tiền. Ơn phúc ấy đòi hỏi sự góp công, sự tìm tòi và nhờ ơn Chúa.


Chúng ta xin ơn Chúa cho chúng ta cũng biết bắt chước như các nhà chiêm tinh để chúng ta có một lòng say mê tìm kiếm Thiên Chúa như họ. Và, trong cái hành trình tìm kiếm Thiên Chúa ấy có những lúc khó khăn là bị mất dấu do mất ánh sao lạ hay là sự đe doạ của những Hêrôđê thời đại nhưng nếu vững tâm và vững tin thì sẽ được gặp.


Và khi gặp Ánh Sao Soi Đường, khi có Ánh Sao Soi Đường trong cuộc đời của ta, ta cũng nên chăng bắt chước những nhà chiêm tinh là chia sẻ Ánh Sao mà chúng ta bắt gặp trong cuộc đời của anh chị em đồng loại chung quanh ta. Thiên Chúa vẫn muốn, vẫn mời gọi mỗi người chúng ta hãy là một ánh sao nho nhỏ để cho người khác được xem thấy. Thiên Chúa vẫn muốn chúng ta chỉ cho mọi người thấy Ánh Sao Soi Đường đích thực chính là Ngài.


Nguyện xin Chúa Giêsu là Ánh Sao Soi Đường chỉ đường dẫn lối cho mỗi người chúng ta luôn đến và ở lại với mỗi người chúng ta để chúng ta không bao giờ phải lạc bước giữa cuộc đời đầy phong ba bão táp này và cũng nguyện xin Ánh Sao Soi Đường ban ơn cho chúng ta để chúng ta được chiêm ngắm vinh quang mà Thiên Chúa hứa cho những ai Ngài yêu thương, Ngài ân thưởng.

LM. Anmai, CSsR

ĐI THEO ÁNH SAO LẠ
Mt 2, 1 - 12

Con Thiên Chúa nhập thể, nhập thế giáng sinh làm người qua cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, đã tỏ mình ra cho các nhà đạo sĩ phương Đông, những người được dân Israen xếp vào hàng dân ngoại. Mà quả thật các nhà đạo sĩ này chưa biết Chúa, là những con người ở ngoài theo cách đánh giá của những người Israen xưa. Do đó, lễ Hiển Linh một cách nào đó được coi như là lễ Giáng sinh của người ngoại. Tuy nhiên, phụng vụ ngày lễ hôm nay lại cho chúng ta hiểu hơn về cái bi đát của chương trình cứu độ của Thiên Chúa, điều mà thánh sử Gioan đã tóm tắt trong chương đầu Tin Mừng của Ngài: " Ngài đã đến nơi nhà của Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận, không đón tiếp Ngài".

Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay, đặc biệt ngôn sứ Isaia đã tiên báo Đấng Cứu Thế đến trần gian này với lời lẽ đầy vui tươi, hạnh phúc và tưng bừng. Giêrusalem bừng sáng và là trung tâm của ánh sáng, thu hút, lôi kéo muôn dân về Giêrusalem với muôn vàn lễ vật để kính tiến Đấng cứu tinh khi Ngài ngự đến, khi Ngài xuất hiện.Nhưng cái nghịch lý và thật trớ trêu thay lời ngôn sứ Isaia loan báo đã không xẩy ra đúng như người ta cảm nhận, mà khi ánh sáng chiếu trên Giêrusalem thì chỉ có những người ngoại nhận ra và tìm tới để bái chào Hài Nhi Giêsu, còn dân trong thành Giêrusalem thì lại thờ ơ lãnh đạm.


Với một ánh sao soi đường, một ánh sao sáng khác với những ánh mắt hỏa châu vụt lên để con người tìm kiếm giết chóc, hận thù, để con người sống chiến tranh, chia rẽ. Một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời đầy sao sáng, có gì khác lạ đối với nhiều người, có gì khác lạ với những người được coi là có đạo, ngoan đạo lúc đó ? Tuy nhiên, tất cả cuộc hành trình rất diệu kỳ, rất lạ lùng đều được các nhà đạo sĩ khởi đi từ ngôi sao lạ ấy. Ba nhà đạo sĩ phương Đông đêm ấy đã nhìn lên trời, họ đã nhìn thấy và nhận ra ánh sáng, ngôi của Hài Nhi Giêsu. Họ đã đem theo những sản phẩm của địa phương là Vàng, Hương, Mộc dược, rồi nong nả dõi theo và đi theo ngôi lạ để tìm gặp Hài Nhi Giêsu. Đêm ấy, chắc chắn đã có nhiều người, đã có muôn người cũng đã ngước mắt nhìn lên trời nhưng họ không thể nào nhận ra ngôi sao lạ giữa muôn vàn ngôi sao khác và vì thế, họ đã chẳng nhận ra Đấng cứu tinh đã tới giữa gian trần này để đem ơn cứu độ và hạnh phúc cho con người.


Muôn thời và mọi thời, ngày nay biết mấy người đã nhận ra những dấu chỉ tình thương của Chúa qua những biến cố, những sự kiện, những vụ việc xẩy ra trên thế giới, trong xã hội, nơi gia đình vv...Và như thế, con người đâu có nhận ra bộ mặt đầy yêu thương của Chúa, nhận ra con người đầy nhân ái của Đấng cứu tinh Giêsu.


Ba nhà đạo sĩ đã nhận ra ánh sao lạ và họ đã ra đi tới nơi họ chưa thể biết được. Trong cuộc hành trình ấy, Tin Mừng cho biết họ đã gặp biết bao thử thách, cam go, cạm bẫy. Ngôi sao lúc hiện lúc ẩn, họ đã phải hỏi những người không quen biết. Và họ đã gặp biết bao khó khăn. Một Hêrôđê nham hiểm nấp dưới bóng ân cần và lời nhẹ nhàng, dụ dỗ đường mật. Cuối cùng, ba nhà đạo sĩ cũng đã tới nơi hang đá Bêlem va gặp Hai nhi Giêsu bé nhỏ, yếu ớt, mong manh. Họ đã sụp xuống thờ lạy Vua Tình Yêu và dâng cho Chúa Hài Nhi những sản phẩm địa phương thật quí giá.


Vâng, những nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó, các kinh sư, tư tế, luật sĩ đã tự cho mình là thông hiểu lề luật, hiểu thấu đáo Kinh thánh nhưng thực tế họ đã đặt họ ra ngoài lề vì chính sự thông hiểu của họ đã tố cáo họ, đã lên án họ.Những kẻ bị coi là ở ngoài, là vô đạo lại nhìn thấy và nhận ra Chúa trong dấu chỉ của một ánh ngôi, một ngôi sao.


Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại là lễ Giáng Sinh của dân ngoại. Mừng Lễ Hiển Linh hôm nay là Kitô hữu chúng ta có dám mạnh dạn nhận ra Chúa và nong nả chóng vánh lên đường tìm gặp chúa như ba nhà đạo sĩ phương Đông hay chúng ta tự đặt mình vào nhóm những thương tế, kinh sư, tư tế mà nhắm mắt làm ngơ trước sự thực hiển nhiên là Đấng cứu thế đã đang hiện diện nơi họ ?


Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con mau mắn nhận ra Chúa và chóng vánh đi tìm gặp Chúa để thờ lạy và cung kính bái chào. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

PHÙ THỦY BILƠAM VÀ LỜI NGUYỀN
Mt 2, 1 - 12

Trên đường tiến về miền đất Thiên Chúa hứa ban cho các Tổ phụ, đoàn dân của ông Môsê đã phải giao tranh với nhiều nước lân bang thời đó. Lý do để giao tranh nhiều khi rất giản đơn. Có khi chỉ vì lý do xin di ngang qua nước của lân bang mà không được chấp nhận, đành phải dùng biện pháp đánh nhau để vượt qua như khi đối đầu với dân Êmôri. Và đoàn dân nhỏ bé của ông Môsê đã không đánh thì thôi, chứ đánh là thắng làm cho các nước lân bang đều run sợ. Một trong những nước lo sợ đạo quân của Môsê đó là vua người Môáp. Chính vì lo phải đối đầu với dân Israel mà vua Môáp sai sứ đến với một phù thủy có tên là Bilơam thuộc đất dân Ammon để xin phù thủy này "trù ẻo" Israel để dân này ra suy yếu và vua sẽ nhân vì sự ấy tiến đánh.

Các sứ giả vua Môáp lên đường tìm gặp phù thủy Bilơam để trao cho ông lời sấm "chúc dữ" dân Israel. Bilơam mời các sứ giả nghỉ qua đêm để ông thỉnh ý Giavê Thiên Chúa. Sáng hôm sau, Bilơam nói cùng các sứ giả rằng ông không thể làm theo yêu cầu của vua Môáp được. Nhưng đến lần thứ hai, dưới tác động của Thiên Chúa, ông chấp nhận ra đi với các sứ giả vua Môáp.


Bilơam đến miền đất dân Môáp để chúc dữ cho dân Israel trên lưng một con lừa cái và đi cùng với hai chú tiểu đồng. Trên đường đến với vua Môáp, con lừa của Bilơam thấy Thần sứ của Thiên Chúa đứng cản đường cùng với thanh gươm cầm sẵn trong tay. Thấy thế, con lừa cái bèn tránh đường đi xuống ruộng. Bilơam đánh đập con lừa và bắt nó phải đi trên đường.


Khi đến con đường mòn hai bên đều xây tường, con lừa cái khi thấy Thần sứ liền ép sát vào tường làm cho chân của Bilơam bị cọ sát trầy xước. Tức giận ông phù thủy lại đánh con lừa cách thậm tệ.


Nhưng đến khi đến đoạn đường hẹp không thể nào đi được nữa vì Thần sứ chận đứng, con lừa đành phải nằm bẹp xuống chân ông Bilơam. Thấy vậy, Bilơam càng tức giận. Ông dùng gậy tới tấp đánh con lừa. Đến lúc này, con vật mới lên tiếng:


"Ông thấy không, có bao giờ tôi chống ông không, tôi có làm gì ông mà ông đánh tôi đến ba lần". Bilơam nhìn lên thì thấy Thần sứ Thiên Chúa thì run sợ. Theo hướng dẫn của Thần sứ Thiên Chúa, Bilơam đến với vua Môáp nhưng không phải để chúc dữ cho dân Israel mà là chúc phúc.


Trong bài diễn văn chúc phúc đó, phù thủy Bilơam đã tiên báo về Ngôi sao xuất hiện trong nhà Giuđa :"Một Vì Sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel" (Ds 24, 17)


Sở dĩ phải kể câu chuyện phù thủy Bilơam là vì nó liên quan đến ít nhiều Lời Chúa Chúa nhật hôm nay. Các nhà chiêm tinh Đông phương nhìn thấy ngôi sao xuất hiện và lên đường tìm kiếm. Bài Tin mừng hôm nay nhằm làm nổi bật những ý nghĩa sau:


Hài Nhi mới sinh chính là vị Cứu tinh mà Israel mong đợi từ lâu. Vị Cứu tinh đó chào đời tại Bêlem như lời Ngôn sứ Mikha đã loan báo, từ Bêlem, sẽ xuất hiện một vị lãnh tụ chăn dắt dân Israel (x. Mk 5,1).


Hài nhi Giêsu nắm giữ vương quyền phổ quát, là dấu chỉ cho dân ngoại nhìn nhận ngay khi Ngài mới chào đời. Nơi Hài nhi Giêsu, ứng nghiệm điều ngôn sứ Isaia đã loan báo khi xưa về ngày dân ngoại sẽ lũ lượt tiến về Giêrusalem, mang theo những lễ vật trân quý để tiến dâng (x. Is 60).


Tại Trung đông xưa, các nhà chiêm tinh hay các đạo sỹ là những nhà trí thức của thời đại, thường thuộc hàng Tư tế và làm cố vấn cho các vua. Các nhà chiêm tinh trong Tin mừng đến từ vùng đất phương Đông, quê hương của phù thủy Bilơam. Các nhà chiêm tinh đó là ai? Vào thế kỷ VIII, thánh Bêđa đã miêu tả các nhà chiêm tinh như sau:


- Người thứ nhất tên là Melchior. Đây là một cụ già với mái tóc trắng và chòm râu bạc phơ. Ông đến dâng cho Chúa vàng như là dấu chỉ để chân nhận Vương quyền của Chúa.


- Người thứ hai tên là Gaspar. Đây là người còn trẻ, da đỏ. Ông dâng lên Chúa nhũ hương để chân nhận Thiên tính của Chúa.


- Vị thứ ba tên là Balthasar. Là một người da ngăm đen, râu rậm. Ông dâng Chúa mộc dược, vì biết rằng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa mà cũng là con loài người và Ngài phải chết để cứu độ chúng ta. Ngôi sao mà các nhà chiêm tinh nhìn thấy vốn là dấu hiệu chỉ vương quyền, nó nhắc lại lời sấm chúc phúc của phù thủy Bilơam thuở xưa nói về triều đại David và về chính Đấng Mêsia. Các nhà chiêm tinh không đến viếng Chúa tay không, các ông đến để dâng lên Chúa Vàng, Nhũ hương và Mộc dược là những lễ vật quý nơi quê hương các ông. Theo các Giáo phụ, lễ vật mà các nhà chiêm tinh mang đến để dâng Chúa gồm vàng, nhủ hương và mộc dược tượng trưng cho vương quyền, Thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu. Cho hay, dân các nước -mà các vị chiêm tinh là đại diện, không chỉ đến triều bái Hài nhi Giêsu chỉ vì hiếu kỳ, nhưng còn để tuyên xưng niềm tin -cách nào đó, vào vị Cứu Tinh nhân loại.


Mừng lễ Chúa Hiển linh, phải chăng đó là dịp để mỗi người trong chúng ta một lần nữa nhận ra sự đối kháng rõ rệt giữa thái độ thờ ơ và thù nghịch của dân Dothái đối với Hài nhi và lòng tin mau mắn cách quảng đại của dân ngoại. Các thượng tế và kinh sư vốn nắm vững Kinh thánh và lời các Ngôn sứ mà không nhận ra Đấng Cứu Thế; trái lại những người ngoại đạo lại nhìn nhận dấu chỉ của Người và lên đường kiếm tìm để thờ lạy. Lên đường tìm kiếm Chúa và thờ lạy Ngài không phải là việc của một dân tộc, một màu da, một nền văn hoá mà là của toàn thể thế giới đại đồng.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH
Mt 2, 1 - 12

Ngày xưa người ta quen gọi lễ Hiển Linh là lễ Ba Vua, sở dĩ vậy vì trong Tin Mừng đọc trong Thánh Lễ hôm nay, ba nhà đạo sĩ tìm kiếm để bái yết hài nhi Giêsu. Ba nhà đạo sĩ là những người trổi trang về kiến thức uyên bác; họ có thể đọc dấu chỉ thiên nhiên để nhận ra sự xuất hiện của những người đặc biệt. Từ ngữ "vua" được dùng trong "ba vua" là để chỉ người trổi trang hơn người khác về phương diện nào đó.

Qua biến cố mục đồng tới viếng hài nhi, người ta nhận ra Thiên Chúa đã tỏ mình cho những người Do Thái nghèo nhưng có tâm hồn mở rộng sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa. Với biến cố ba nhà đạo sĩ đi viếng hài nhi, Giáo Hội nhận ra Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại.


Người Do Thái cho rằng họ là dân được tuyển chọn, còn các dân tộc khác là dân ngoại. Với biến cố Đức Giêsu và việc các dân tộc khác đón nhận Tin Mừng, người ta nhận ra rằng tất cả mọi dân tộc đều thuộc về Thiên Chúa, tất cả các dân tộc đều được Thiên Chúa yêu thương như dân tộc Do Thái. Hôm nay với trình thuật các đạo sĩ tìm kiếm và bái lạy Đức Giêsu, Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa cũng mặc khải cho dân ngoại. Thiên Chúa yêu thương dân ngoại như Ngài đã từng yêu thương dân tộc Do Thái. Mọi dân tộc đều bình đẳng trước Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc, mọi con người, chứ không phải chỉ riêng dân tộc Do Thái.


Kitô hữu phải là người cảm nghiệm sâu xa tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, và đặc biệt cho chính mình. Kitô hữu cũng phải là người sống bình an và hạnh phúc, vì ý thức mình là tạo vật được Thiên Chúa yêu thương. Ngài tha thứ mọi lỗi lầm, và không chỉ vậy, còn mời gọi mọi người vào chia sẻ sự sống vĩnh cửu hạnh phúc với Thiên Chúa. Một khi phần nào cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa và bình an hạnh phúc, Kitô hữu thấy mình phải chia sẻ niềm vui này, tin mừng này cho những người anh em của mình chưa biết Đức Giêsu, ngõ hầu họ cũng có niềm vui này. Bản chất Kitô hữu là rao giảng Tin Mừng, làm cho muôn dân được nghe, hiểu và sống đáp trả tình yêu Thiên Chúa.


Ngày nay nhiều người "dị ứng" với từ ngữ truyền giáo, vì từ ngữ này gợi lên nơi người ta ấn tượng rao giảng để kéo người khác bỏ đạo của họ để theo Kitô giáo. Nếu có ý hướng như vậy, người ta mang nặng tính phe phái và giành giựt nhiều hơn là chia sẻ tin mừng. Một Kitô hữu đúng nghĩa phải là người muốn chia sẻ tin mừng với người khác, vì mình nghĩ rằng biết Đức Giêsu là điều rất tốt và ích lợi cho mọi người. Tuy nhiên, Kitô hữu phải là người luôn tôn trọng người khác, tôn trọng tự do và tín ngưỡng của tha nhân; nếu ai đó đón nhận Tin Mừng, thì đó là vì chính họ thấy sự thật, họ cũng được bình an và hạnh phúc hơn khi trở thành Kitô hữu.


Khi một Kitô hữu muốn rao giảng tin mừng, họ phải tự vấn chính mình: "niềm tin vào Đức Giêsu mang gì lại cho tôi? Tin vào Đức Giêsu, có làm cho tôi sống bình an và hạnh phúc hơn không? Nếu tin vào Đức Giêsu Phục Sinh không giúp gì cho tôi, thì tại sao tôi lại muốn làm cho người khác trở thành Kitô hữu như tôi?" Lời mời gọi rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh đòi Kitô hữu phải xét lại niềm tin của mình, lối sống của mình. Nếu đời sống của tôi không là đời sống toát lên nét tươi vui của một người hạnh phúc, thì làm sao tôi có thể rao giảng tin mừng được! Nếu tôi sống u buồn thất vọng, tôi là phản chứng cho Tin Mừng Phục Sinh. Tôi phải sống sao, để đời sống của tôi không trở thành phản chứng.


Kitô hữu là người có Chúa Kitô nơi mình, là người bạn của Đức Giêsu Kitô, là người muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Cách sống của Đức giêsu Kitô phải là cách sống của mỗi Kitô hữu. Kitô hữu phải là người có cùng chọn lựa với Đức Giêsu Kitô, phải biết yêu thương con người hôm nay như chính Đức Giêsu đã yêu, phải là người yêu đến cùng anh em mình, người thân mình, những người mình gặp gỡ, và thậm chí cả những kẻ không ưa và ghét mình. Đức Giêsu đã cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài, Kitô hữu cũng phải tha thứ cho những người làm hại họ.


Kitô hữu phải là người trung thành như Thiên Chúa là Đấng Thành Tín. Thiên Chúa không bao giờ phản bội, và Kitô hữu cũng không bao giờ được phản bội ai. Không làm hại ai. Chỉ muốn điều tốt cho tha nhân, chỉ tìm lợi ích cho người khác chứ không làm hại họ, đó phải là cách sống của Kitô hữu. Có được như vậy, nhiều người sẽ ngạc nhiên và sẽ tìm hiểu niềm tin của Kitô hữu; để rồi nếu họ muốn họ có thể chia sẻ niềm tin Kitô hữu, để họ cũng được bình an và hạnh phúc như những Kitô hữu. Kitô hữu phải là men trong bột, phải là ánh sáng cho thế gian. Kitô hữu tuy có cùng nỗi bận tâm và gian nan như bất cứ con người nào sống trên đời, nhưng ánh sáng đức tin đã soi sáng cho họ, giúp họ tuy sống giữa trần gian nhưng không thuộc về trần gian.

LM Phạm Thanh Liêm, SJ

ĐẤNG CỨU CHUỘC MUÔN DÂN
Mt 2, 1 - 12

Những người đã đọc trước tiên bài Tin Mừng chúng ta vưa nghe xong, là những Kitô hữu người Do-thái. Dù đã trở lại Kitô giáo, tâm tình và cách suy tư của họ vẫn còn bị ảnh hưởng nặng quan điểm của Do-thái giáo. Vì thế đối với những tín hữu này, là cả một điều vô cùng lạ lùng và bỡ ngỡ, khi nghe đọc : Các nhà Phù thủy (Magie) từ phương đông xa xôi đã đến để thờ lạy « vua Do-thái ». Ðối với họ, những người Phù thủy là những kẻ ngoại đạo, họ không được phép liên hệ, vì những người đó - cũng tương tự như những Chiêm tinh gia - thực hành những điều bị tôn giáo họ cấm đoán, như bói toán, bùa chú. Những Phù thủy là những người xa lạ, là những kẻ dạy những điều mê tin dị đoan nhảm nhí, vâng, là những kẻ thù nghịch với đức tin.

Thế nhưng bây giờ, chính những người đó đã đến Giê-ru-sa-lem và nói : « Một ngôi sao lạ đã dẫn đường chúng tôi đến đây ! Vị tân vương của người Do-thái mới sinh ra ở đâu ? » Họ đã làm đảo lộn và làm điên đầu những người bảo vệ đức tin và gìn giữ trật tự tôn giáo tại Do-thái. Nhưng chính những người này, dù thông thạo Kinh Thánh và theo lẽ thường là phải biết được cách rõ ràng biến cố đã xảy ra, cũng chỉ có thể nói được tên của nơi chốn có thể xảy ra biến cố, chứ nhiều hơn cũng đành bó tay. Còn bạo vương Hê-rô-đê thì chỉ nhìn thấy trước mắt một sự đe dọa nguy hiểm cho vương quyền của y. Vì thế, với mánh khóe xảo quyệt, y đã tìm cách lợi dụng sự hiểu biết của ba vị đạo sĩ ngoại giáo để thi hành thâm ý ích kỷ và độc ác của y. Qua đó, chúng ta thấy rằng, trong khi những người ngoại giáo - được hướng dẫn bởi một ngôi sao - đã tìm gặp được điều Kinh Thánh mặc khải, còn những người « tín hữu » lại không hề hay biết gì cả.


Ðúng vậy, về phương diện thần học, điều làm cho chúng ta phải ngạc nhiên trong đoạn văn này là : Những người ngoại giáo đã được kêu mời đến cùng Ðức Kitô. Và qua Hài Nhi nằm trong máng cỏ, họ đã nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa và đã quì gối tôn thờ. Còn những gì họ mang đến để kính dâng lên như lễ vật của mình, đã nói lên ý nghĩ và sự đánh giá của họ về Hài Nhi : Họ mang đến vàng. Vàng là một thứ kim loại quý hiếm. Nó sáng bóng như mặt trời. Ðó là một thứ kim loại dành để các vị vua khắc ấn hình ảnh của mình trên đó. Vậy, họ mang vàng đến như lễ vật dâng lên vị Ấu Chúa, Ðấng sẽ in đậm hình ảnh mình trên cả vũ trụ.


Món quà thứ hai là nhũ hương. Ðó là một loại hương liệu quý. Khi những hạt nhũ hương được đốt cháy, thì tỏa ra một làn khói trắng bốc thẳng lên cao với một mùi thơm dịu dàng. Mùi hương thơm bay tỏa ra và làm cho cả một vùng không khí thơm ngào ngạt. làn khói là tượng trưng cho sự hiện diện đầy huyền nhiệm của Thiên Chúa. Làn khói cuộn tròn, lan ra chung quanh và bốc lên cao, như muốn nối kết phía dưới thấp với phía trên cao, nối kết đất với trời.


Còn món quà thứ ba là mộc dược, một thứ rễ cây đắng, một vị thuốc chữa bệnh. Món quà muốn biểu hiệu cho sứ mệnh của Hài Nhi trong máng cỏ : Người sẽ hàn gắn và chữa lành mọi bệnh tật tâm linh và cả bệnh tật thể xác của con người, cũng như mang lại cho họ sự cứu rỗi !


Với những lễ vật đó, ba người ngoại giáo muốn bày tỏ lòng tôn kính và sự xác tín của họ : Ðức Kitô là Vua và là Ðấng Cứu Thế cho tất cả mọi người và mọi dân nước. Ðó là điều được đề cập tới ở đây, trong phần đầu của Tin Mừng theo thánh Má-thêu. Và tiếp đến trong phần cuối của bản Tin Mừng lại được thánh sử kết thúc bằng câu : « Các con hãy làm cho tất cả mọi người trở thành môn đệ của Thầy và hãy rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ! »


Bởi vì, Thiên Chúa là Vua, một Ðức Vua đầy tình phụ tử; Còn Chúa Con thuộc về Thiên Chúa và là Thiên Chúa; Người tác động trong cuộc sống chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần. Ðó chính là sứ điệp của ngày lễ hôm nay. Hay nói cách khác, ngày lễ Hiển Linh phải là một sứ điệp vui mừng cho chúng ta, vì nó bày tỏ cho chúng ta một sự thật là tất cả chúng ta - không phân biệt màu da, chủng tộc, văn hóa hay tôn giáo - đều có thể trở thành môn đệ Ðức Kitô. Bởi vậy, chớ gì những người còn ở « ngoài cuộc », chưa nhập vào đoàn môn đệ Ðức Kitô - dù do họ là người ngoại giáo hay do họ đi lạc đường - hãy biết nỗ lực tìm kiếm một cách nghiêm chỉnh con đường dẫn đến cùng Ðức Kitô, Ðấng duy nhất có thể ban cho con người sự cứu rỗi sau cùng. Và sự nỗ lực đó không chỉ họ, những người còn « đứng ngoài », phải có, nhưng cả chúng ta nữa, những người vẫn nghĩ mình đã « ở trong cuộc » rồi, cũng phải luôn luôn cố gắng không ngừng.


Những điều chúng ta vừa nói trên có thể giúp chúng ta đi tới ba suy tư :


Chúng ta cần phải giữ cho tư tưởng của mình được khoan dung và cởi mở; không đoán xét những người lạ mặt hoặc coi khinh họ hoặc kết án những con đường họ đi là lệch lạc; bởi lẽ, rất có thể là họ đã được một ngôi sao lạ dẫn đường, còn chúng ta lại không nhìn thấy được ngôi sao đó hoặc nhìn thấy, nhưng lại không nhận ra được.


Chúng ta được cảnh tỉnh : Những người có quyền bính và trách nhiệm xưa kia đã bị sai lầm. Mặc dù họ đã biết chính xác được địa danh, nơi Vị Tân Vương được sinh ra, và chẳng những họ không muốn đi đến kính viếng và thờ lạy Người, nhưng họ còn bày tỏ thái độ thù nghịch chống lại Vị Tân Vương mới sinh ra nữa. Khi trong một cộng đoàn đức tin mà Ðức Kitô không còn được nghiêm chỉnh tìm kiếm, thì cộng đoàn đó sẽ trở thành trò hề cho thiên hạ và là một cản trở cho Tin Mừng. Chúng ta cần phải nghiêm chỉnh. Vì chỉ khi chúng ta nghiêm chỉnh tìm hiểu điều Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta, bấy giờ chúng ta mới trở thành những vị đạo sĩ, những người « khôn ngoan », biết tìm kiếm Ðức Kitô.


Và điều thức ba được nói cho chúng ta, đó là : Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải mang lễ vật đến dâng lên Người. Vì qua các lễ vật đó, chúng ta có thể nói lên Ðức Kitô có ý nghĩa gì đối với chúng ta, một cách rõ rệt hơn là bằng lời nói suông.


Nhưng chúng ta cần phải mang theo những lễ vật nào ?


Theo thiển ý, tôi nghĩ rằng, có hai lễ vật chúng ta cần mang theo để dâng lên Ðức Kitô :

Lễ vật thứ nhất là : Thời giờ ! Vâng, thời giờ là một lễ vật quan trọng nhất. Chúng ta hãy dùng thời giờ để đi tìm kiếm Ðức Chúa và để qui hướng cuộc sống mình theo gương sống của Người.

Lễ vật thứ hai đối với tôi cũng quan trọng tương tự, đó là : Chúng ta cần phải thật lòng quan tâm tới những người phải sống một cuộc sống tương tự như Ðức Giêsu, tức những người nghèo hèn, những người phải hằng ngày chân lấm tay bùn, những người bị coi là loại người « vô tích sự » trong con mắt người đời!

Ðó chính là bài học thực tế nhất chúng ta có thể rút tỉa ra được từ đại lễ Chúa Hiển Linh hôm nay ! Amen

LM Nguyễn Hữu Thy

LỄ HIỂN LINH: MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG
Mt 2, 1 - 12

1/ Lễ Hiển Linh là lễ Anh Sáng. Mầu nhiệm Anh Sáng của lễ Hiển Linh được tỏ hiện qua ngôi sao hướng dẫn các Đạo Sĩ từ Đông Phương đến thờ lạy Chúa Hài Nhi: " Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông Phương và chúng tôi đến để triều bái Người".(Mt 2.31)

Ngôi sao Đông Phương hướng dẫn các Đạo Sĩ đến thờ lạy Chúa, đó là biểu tượng nói lên Hài Nhi Giêsu chính là Anh Sáng đã đến thế gian, như lời Tiên tri Isaia trong bài đọc một đã tiên báo:"Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem ! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi."(Is 60.1) Nhưng Chúa Giêsu còn là Anh Sáng soi chiếu cho hết mọi dân tộc như lời cụ Simêon đã nói về hài nhi Giêsu "là Anh Sáng soi đường cho dân ngoaị, là vinh quang của Israel dân Người ".(Lc 12.32 )


2/ Nhưng thử hỏi: Chúa Giêsu là Anh Sáng đã đến thế gian, vậy tất cả những người thời bấy giờ có tiếp nhận Ngài không? Ta chỉ thấy ngoài Mẹ Maria, Thánh Giuse, các Mục Đồng và các Đạo Sĩ là những người đại diện cho dân tộc Israel và cho các dân trên mọi nước tiếp nhận Đức Giêsu. Còn hầu hết thì còn chưa tiếp nhận Ngài hay không nhìn nhận Chúa Cứu Thế là Anh Sáng. Vì thế mà Chúa Giêsu đã nói:" Người đã đến nhà mình nhưng người nhà chẳng đón nhận",(Ga 1. 11) vì " người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc làm của họ xấu xa". (Ga3.19) Một khi con người khước từ Đức Giêsu thì con người sẽ chìm đắm trong đêm tối. Vì Chúa nói :"Ta là ánh sáng trần gian, để bất cứ ai tin vào Ta, thì không ở lại trong bóng tối."(Ga12.46)


3/ Khi con người đang sống trong một Thế giới đang vươn tới đỉnh cao của sự phát triển : phát triển trí tuệ; phát triển kinh tế; phát triển mối tương quan đại đồng giữa các quốc gia với nhau; phát triển những lối sống văn minh hiện đại..... Vậy nhìn vào thế giới hiện tại hôm nay, ai dám nghĩ rằng đó là một thế giới hoàn hảo ? Chắc hẳn là không. Vì sau những vẻ hào nhoáng của Thế giới mau qua này, thì lại xuất hiện mảng bóng đêm tăm tối đang lan tràn vào thế giới như : sự thù hận và tìm cách hạ bệ lẫn nhau giữa người với người mỗi ngày thêm gia tăng; sự chia rẽ trong hôn nhân được báo động tới mức trầm trọng; nạn phá thai càng ngày càng nghiêm trọng và khủng khiếp; mại dâm ma tuý bị coi như đó là chuyện bình thường, tệ nạn này đang lan tràn đến những miền quê và nông thôn; đời sống công bằng và bác ái càng ngày càng mất dần trong cộng đoàn, xem đồng tiền, xem của cải hơn là phẩm giá của một con người. Nói chung, Thế giới hôm nay đang đạt tới tầm vóc của sự phát triển, thì đời sống tâm linh và nhân bản của rất nhiều người cũng bị rơi vào tình trạng đen tối và bị huỷ hoại. Một khi sự sống của con người đang bị chết dần bởi hành vi đen tối của họ, thì đó cũng là lúc vinh quang của Thiên Chúa đang bị mọi người chà đạp và loại trừ ra khỏi đời sống họ. Vì "Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống".(Irênê) Mà một khi đánh mất vinh quang của Thiên Chúa ra khỏi đời sống của mình, thì cuộc sống của con người sẽ là bộ xương khô, cuộc sống sẽ giả tạo. Sống giả tạo thì đời sống làm gì có ý nghiã, làm sao họ có thể đạt được mục đích cuối cùng của kiếp người.


4/ Vì thế, trong khung cảnh của ngày lễ Hiển Linh, lễ Anh Sáng, là người Công Giáo chúng ta hãy ý thức lại sứ mạng của mình. Sứ mạng của chúng ta là phải trở nên" Anh sánh cho trần gian",(Mt 5.14) và Anh Sáng của chúng ta phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp của chúng ta làm, mà tôn vinh Cha của chúng ta, Đấng ngự trên trời.(x,Mt 5.16) Vậy việc làm tốt đẹp của chúng ta đó là việc gì? Trước hết, chúng ta "hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thịên".(Mt 5.48) Sống hoàn thiện như Thiên Chúa luôn đòi hỏi chúng ta phải trở nên sứ giả gieo rắc"nền văn minh tình thương", "nền văn minh sự sống "trong môi trường chúng ta đang sống. Đây là lời mời gọi mang tính tổng quát, nhưng khi chúng ta khám phá và sống một trong những điều tổng quát này, thì đời sống chúng ta sẽ trở thành ngọn đèn soi sáng cho những ai đang lần bước trong đêm tối.


Xin Mẹ Maria là Ngôi Sao Mai, giúp cho đời sống chúng con cũng trở thành ánh sao sáng trong việc sống đạo hôm nay. Amen.

LM Jos Nguyễn Minh Chánh

CHÚA TỎ MÌNH RA
Mt 2, 1 - 12

Bầu trời xem ra như vẫn có muôn vàn tinh tú đang lấp lánh và hình như vẫn có một ngôi sao lạ đâu đó đang dẫn đường cho những kẻ thành tâm thiện chí đến Bêlem để thờ phượng, cung chiêm Hài Đồng Giêsu. Năm xưa cũng như nay, ba nhà đạo sĩ phương Đông vẫn dõi theo ánh sao để tìm gặp Đấng Cứu Thế Giêsu. Các mục đồng đêm Giáng Sinh chỉ đơn thuần đến thờ lạy Chúa, dâng cho Ngài đôi lễ vật đơn sơ. Những chú mụcđồng khó nghèo, rách rưới không có vàng, hương và mộc dược. Họ chỉ có tấm lòng và rồi người trước, kẻ sau, người giầu, người nghèo, kẻ sang, kẻ hèn đã tiếp bước tới thờ lạy Chúa Giêsu. Đó là hình ảnh của Hội Thánh chúa Kitô ở trần gian gồm mọi thành phần xã hội, gồm đủ mầu da, tiếng nói.

Việc Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại được thánh Matthêu tường thuật cách tỉ mỉ, chi tiết trong Tin Mừng của Ngài. Muốn hiểu việc Chúa được đón nhận ra sao, chúng ta phải đặt mình trong hoàn cảnh của Tin Mừng kể lại. Quả thực những Kitô hữu đầu tiên đều là những người Do thái cũ trở lại. Họ có cái nhìn khép kín về đạo, về ơn cứu độ. Họ cứ tưởng rằng ơn cứu rỗi chỉ được tặng ban cho người Do Thái và Chúa Giêsu cũng chỉ là món quà quí giá Thiên Chúa trao ban cho dân tộc Do Thái mà thôi. Họ chưa ra khỏi quan niệm khép kín, cục bộ để hiểu rằng ơn cứu độ được Chúa ban cho mọi người. Thánh Matthêu là một người Do Thái làm nghề thu thuế, một cái nghề bị xã hội Do Thái khinh miệt, cho là tội lỗi vì làm tay sai cho ngoại bang, bóc lột nhân dân, bóc lột người đồng hương. Bị khinh khi, loại trừ nhưng thánh Matthêu được Chúa chọn làm tông đồ. Chúa yêu thương Matthêu như ông Giakêu, như người phụ nữ ngoại tình, như người nữ bên bờ thành giếng Giacóp. Ơn cứu độ được ban cho mọi người, mọi dân tộc trên thế giới. Các mục đồng xưa là người Do Thái đang canh giữ đàn chiên ngoài đồng không, mông quạnh, đã nghe lời loan báo của các Thiên Thần,tới kính bái Ngôi Hai làm người và rồi dõi theo ánh sao lạ dẫn đường ba nhà đạo sĩ phương Đông cũng tới thờ lạy Hài Đồng Giêsu. Do đó, lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại và cho mọi người.


Tin Mừng của thánh Matthêu thuật lại câu chuyện ba vị đạo sĩ ngoại quốc từ phương Đông nhận ra ánh sao và dõi theo ánh sao lạ để tới Bêlem thờ lạy Chúa Hài Đồng Giêsu với những lễ vật quí giá: vàng, nhũ hương và mộc dược.Thánh Matthêu cũng muốn gợi lên cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Bầu trời lúc đó quả có nhiều sao và ngôi sao lạ vẫn có đó nhưng biết bao nhiêu người giờ đó, lúc đó nào đâu có nhận ra ánh sao lạ lùng, đặc biệt là những kinh sư, các biệt phái, các nhà thông luật nào đâu có nhận ra ánh sao khác thường. Họ đóng kín cửa lòng, đóng kín con tim để không bao giờ có thể nhận ra dấu chỉ tìm kiếm Đức Giêsu. Hêrôđê lại càng rối mù khi nghe các nhà đạo sĩ thuật lại ánh sao lạ và rồi khi nghe những nhà chiêm tinh mách bảo vua về một ngôi sao lạ lùng, và nhất là khi thấy các nhà đạo sĩ không quay trở lại báo cáo cho ông về Hài Nhi Giêsu, vua Hêrôđê lại càng bối rối, lại càng ích kỷ, sợ mất ngôi, mất chức thay vì tìm kiếm ánh sao để đến gặp gỡ Giêsu, ông lại càng mù và mù hơn nữa để ra chiếu chỉ giết sạch các con trai đầu lòng của người Do thái ở Bêlem và các vùng phụ cận. Vâng, bầu trời ngày nay nhiều đêm cũng lấp lánh, dát đầy sao, nhưng thử đã mấy ai nhận ra những dấu chỉ để đến cung chiêm Giêsu hoặc nhận ra những chân lý mà Thiên Chúa muốn vén lộ, tỏ bầy ra cho chúng ta, hoặc ý Chúa phải thực hiện bằng tình yêu thương bác ái đối với những người chúng ta gặp gỡ mỗi ngày. Những ngôi sao lạ vẫn là chúng ta tìm ra sự có mặt của Thiên Chúa nơi mọi biến cố, nơi mọi người chúng ta đang gặp gỡ. Trình thuật của thánh Matthêu về ba nhà đạo sĩ và cuộc gặp gỡ Hài Nhi Giêsu ngang qua ánh sao lạ vẫn còn cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Ba nhà đạo sĩ đã gặp được Chúa, họ không trở lại với Hêrôđê, không trở lại con đường cũ, con đường hận thù, con đường gây tội ác nữa. Ngày nay, được làm con Chúa, được đổi mới chúng ta đừng quay lại con đường cũ, con đường tội lỗi nữa mà chúng ta hãy thẳng tiến trong niềm tin để tiến bước.


Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã cho ánh sao lạ dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ tới tìm gặp Chúa, xin Chúa hãy mở lòng chúng con để chúng con luôn sẵn sàng nhận ra Chúa nơi mọi biến cố của cuộc đời.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

ÁNH SAO
Mt 2, 1 - 12

Anh sao lung linh luôn là nguồn cảm hứng của các nhà thi sĩ, vì từ nó đã phát sinh nhiều tác phẩm hay. Cả các nhà thiên văn cũng thích tìm hiểu về ánh sao lạ để khám phá sự ký bí của thiên nhiên. Còn các nhà chiêm tinh nhìn ánh sao để biết vận mệnh của mỗi con người. Vì thế họ thường nhìn ngắm bầu trời dõi theo muôn ngàn ánh sao đang thi nhau khoe ánh sáng. Nhưng một ngày nọ có một ánh sao lạ xuất hiện đã làm sáo trộn cả phương đông. Ba vị chiêm tinh rủ nhau lên đường tìm kiếm, và dân thành Giêrusalem cũng xôn xao bàn tán về ngôi sao lạ, nhưng họ không đi tìm. Mặc dù họ biết ngôi sao này là một điềm báo về Đấng Cứu Độ mà họ đang mong chờ.

Sự xuất hiện của ngôi sao lạ đã làm cho Hêrôđê sợ hãi và tìm cách thủ tiêu, còn những vị lãnh đạo Do Thái lại dửng dưng với niềm mong đợi của họ. Chỉ có ba vị chiêm tinh đại diện dân ngoại là hăm hở lao mình vào cuộc phiêu lưu tìm kiếm. Sau khi tìm thấy vị quân vương sinh ra trong cảnh cơ hàn nhưng các vị vẫn vui mừng. Đây là niềm vui khi được vào nhà Chúa của các dân ngoại. Ba nhà thiên văn phục mình xuống để yết bái Ngài. Sự thờ kính của ba vua hoàn tất các sấm ngôn phổ quát của tiên tri Isaia: " Từng đàn lạc đà sẽ chở đến Giêrusalem của cải của muôn dân..." (Is.60,5-6) cũng như Tv.72,10 : " Từ Tarsis đến hải đảo xa xăm".


Các vị mà ta thường gọi là ba vua, ba nhà đạo sĩ, thì tự nguồn gốc là tư tế của nước Ba Tư. Tuy nhiên về sau gọi tên gọi ấy được dành để ca tụng các bậc thông thái bên phương đông chuyên về thiên văn học. Kinh thánh thường không để ý đến họ. Còn các vị mà thánh sử Mathêu nói tới có lẽ là những nhà thiên văn học Babylon, ngụ bên kia sông Giodan, có sự hiểu biết về Do Thái giáo và nghe nói về niềm hi vọng về Đấng Thiên Sai. Họ bị ảnh hưởng TV.72,10 và Is.49,7 về sau người ta cho rằng ba vị ấy là ba vua ở bên phương đông. Họ là những người ngoại giáo lại đi tìm vua Do Thái mới sinh ra quả là lạ lùng. Thế nên câu chuyện trên đây có mục đích làm nổi bật vương quyền của Đấng Messia. Hàng vương giả sẽ về triều cống, cả những vua Ả Rập, Saba, cũng đều tới dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng.


Sự vui mừng của vua được đặc biệt đề cao. Đó là niềm vui của dân ngoại đã tìm thấy nơi đức Kitô ơn cứu độ mà họ đang mò mẫm trong hi vọng. Trái ngược với niềm vui ấy là sự lo âu hoang mang của dân thành Giêrusalem; Người Do Thái đã từ chối ơn cứu độ mà Đức Kitô mang đến, trong đó có Hêrôđê, con của ông và dân cư Giêrusalem đại diện cho dân do Thái. Còn các vị chiêm tinh phương đông đại diện cho dân ngoại thì lại tiếp nhận.. Họ chiếm lấy vị trí mà người Do Thái bỏ đi trong lòng dân Thiên Chúa. Vì từ chối không chịu tin vào Đấng Cứu Thế. Họ sẽ trở thành dân Israel ở thời cuối cùng, được kêu gọi thông phần vào hạnh phúc của thời đại sẽ đến.


Ba nhà thiên văn nhận ra Chúa Giêsu vì nhận ra quyền uy tối thượng của Thiên Chúa nơi Ngài. Họ dâng cho Ngài vàng, nhũ hương và mộc dược. Ba phẩm vật dành cho vinh quang một vị vua. Về sau truyền thống Giáo Hội đã cắt nghĩa : vàng là biểu tượng cho quyền vua, nhũ hương tượng trưng cho thần tính, mộc dược tiên báo cái chết của Chúa Giêsu. Thật ra câu chuyện này dường như không có tính cách lịch sử theo nghĩa đen. Thánh sử không chỉ đơn thuần kể lại sự kiện lịch sử, nhưng đúng hơn, dùng các câu chuyện để giải thích biến cố, để soi sáng, để nêu bật tầm quan trọng của nó đối với lịch sử cứu độ, qua các bản văn cựu ước cũng giúp như qua cách thức kể chuyện khá tự do của thánh Mathêu.


Trong cuộc đời chúng ta, có biết bao lần ánh sao xuất hiện qua ơn Chúa Thánh Thần nhưng chúng ta có lo tìm kiếm ánh sao đó không? Những lời khuyên, lời động viên, một hành động đẹp của tha nhân là những ánh sao, nhưng chúng ta có quyết tâm theo ánh sao đó không? Đồng thời chúng ta có trở thành ánh sao cho người khác không?


Lạy Chúa, cuộc đời chúng con chỉ có ý nghĩa khi chính chúng con là ánh sao dẫn lộ cho kẻ khác tìm về với Chúa, xin cho chúng con ý thức được điều đó để trong cuộc sống, chúng con cố gắng thực hiện bác ái, phục vụ tha nhân nêu gương sáng cho mọi người xung quanh.

Sr Mai An Linh OP

NGÔI SAO SÁNG
Mt 2, 1 - 12

Hiển Linh có nghĩa là Thiên Chúa tỏ mình ra. Cụ thể ở đây là Chúa tỏ mình ra cho các dân tộc ngoài Do Thái, qua các đạo sĩ phương Đông mà trước kia chúng ta quen gọi là ba vua. Khi Thiên Chúa tỏ mình ra cho loài người thì thường Chúa dùng những hình ảnh khả giác, tức là những hình ảnh mà giác quan con người có thể nhận biết được. Chẳng hạn : lửa trong bụi gai đối với ông Mô-sê; cột mây cột lửa đối với dân Do Thái...Có khi Chúa lấy hình người nam như trường hợp với ông Áp-ra-ham, hay chỉ có tiếng nói như trường hợp với Xa-mu-en v.v...

Ở đây Chúa tỏ mình ra cho các đạo sĩ phương Đông xa xôi chưa biết Chúa, Chúa dùng ngôi sao. Một hiện tương phù hợp với khuynh hướng và sự hiểu biết của họ. Người ta đã bàn tán quá nhiều về ngôi sao lạ mà các đạo sĩ phương Đông đã thấy và người ta tìm cách đồng hóa với ngôi sao nọ ngôi sao kia. Có người cho đó là một ngôi sao bình thường, tự nhiên xuất hiện, tạm biến đi, rồi lại xuất hiện, như sao chổi chẳng hạn, mấy chục năm xuất hiện một lần. Ông Kép-lơ, một nhà thiên văn nổi tiếng, sống ở thế kỷ VII, cho rằng: ngôi sao đó là hiện tượng do Mộc Tinh và Thổ Tinh giao nhau ở đường hoàng đạo, chòm Song Ngư. Hiện tượng này ông Kép-lơ tính đã xảy ra vào năm thứ sáu trước công nguyên, vào đúng thời kỳ Chúa Giêsu giáng sinh, và ông quả quyết đó chính là ngôi sao đã dẫn đường cho ba đạo sĩ. Có người lại cho rằng : đây là một loại sao Nô-va, nghĩa là sao bị vỡ ra và cháy sáng trong một khoảng thời gian. Các nhà thiên văn tính ra trên giải ngân hà, một năm có 30 ngôi sao băng như vây...Tất cả những ý kiến trên chỉ là giả thuyết mà thôi, vì không hợp với hoàn cảnh của ngôi sao trong Tin Mừng, bởi vì bất cứ ngôi sao nào trong thiên nhiên cũng không thể phù hợp với ngôi sao trong Tin Mừng. Chỉ có những người không biết Tin Mừng hay không biết thiên văn mới tìm cách giải thích như thế. Không một ngôi sao nào có thể làm được như ngôi sao lạ trong Tin Mừng : xuất hiện, đi trước dẫn đường, vụt biến mất, rồi lại xuất hiện dẫn đường cho các đạo sĩ, và sau cùng dừng lại ngay nơi có Chúa Giêsu trú ngụ.


Ngôi sao này là một dấu hiệu lạ lùng, bất ngờ Chúa dùng để tỏ mình ra cho các đạo sĩ, khiến họ phải lên đường phiêu lưu, tìm một "Đấng nào đó" mà họ đoán rằng phải quan trọng lắm. Với một dấu hiệu không rõ rệt, không chắc chắn, không đầy đủ là ngôi sao lạ, thế mà các đạo sĩ đã nhất định ra đi tìm "vua mới". Đúng là "trên vạn nẻo đường" biết bắt đầu đi về đâu ? Thực là "đáy biển mò kim", và thực là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Nhưng bất chấp tất cả mọi nguy hiểm, mọi khó khăn, các ông kiên quyết dõi theo ánh sao thực hiện lòng tin của mình. Sau cùng, các ông đã tìm đến nơi. Các ông không gặp thấy một cung điện nguy nga, không gặp thấy một trẻ sơ sinh nằm trong nhung lụa, mà chỉ thấy một hài nhi đơn sơ, bình thường như mọi hài nhi khác. Các ông đi tìm vua Do Thái mà lại chỉ gặp một hài nhi nghèo. Nhưng không vì thế mà các ông thất vọng. Ngược lại, các ông vẫn tin. Và lòng tin đó được biểu lộ cụ thể bằng việc phủ phục xuống một cách khiêm tốn để thờ lạy và dâng lễ vật.


Câu chuyện các đạo sĩ này vẫn luôn luôn hợp thời và có giá trị cho mọi người. Bởi vì cuộc đời của chúng ta ở trần gian luôn phải đi tìm kiếm Chúa và sống vai trò "ngôi sao dẫn lối" cho người khác. Mặc dầu đã được gia nhập cộng đồng Giáo Hội, chúng ta vẫn phải đi tìm kiếm Chúa, tìm kiếm suốt đời, vì chúng ta chưa hoàn toàn nhận được Chúa cho trọn, chúng ta vẫn còn có thể lạc mất và xa lìa Chúa. Chúng ta hãy theo tinh thần thiện chí của các đạo sĩ mà chịu khó tìm hiểu. Chúng ta có thể tìm hiểu Chúa trong tạo vật thiên nhiên, trong mọi biến cố vui buồn của cuộc đời, trong những người sống chung quanh, và ngay trong chính lòng mình. Tất cả đều là dấu chỉ của Chúa. Đời là cuốn Kinh Thánh ấy, mỗi ngày chúng ta viết lên một hàng chữ, mỗi tuần một trang, mỗi tháng một đoạn, mỗi năm một cuốn, và hết đời là chép xong toàn bộ.


Chúng ta vừa là người tìm kiếm vừa là ánh sao soi cho người khác đi tìm kiếm Chúa. Cuộc đời của chúng ta bên kẻ khác chỉ có ý nghĩa khi nào sự hiện diện của chúng ta là một lời mời gọi, dẫn đưa người khác cùng với chúng ta đi tìm Chúa. Chúng ta chỉ sống trọn vẹn ý nghĩa đời con Chúa khi cuộc đời chúng ta là một ánh sao dẫn lối cho anh chị em chúng ta đến với Chúa.


Người ta nói : có người sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt. Không, không có ai là ngôi sao xấu. Tất cả đều là ngôi sao tốt. Trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa, mỗi người đều có một chỗ đứng, một vai trò nào đó. Vì thế, không ai được tự ty mặc cảm, chán nản thất vọng. Cũng không ai được tự tôn tự phụ, huênh hoang... Chúng ta hãy sống thực sự là một con người, hơn nữa, thực sự là một người con Chúa.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

CHÚA TỎ MÌNH CHO MUÔN DÂN
Mt 2, 1 - 12

Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Người

Thánh sử Mát-thêu là người duy nhất đã viết về biến cố "Khi đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đa, thời vua Hê-ro-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến, và hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh ra, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Người".


Nghe tin ấy, vua Hê-ro-đê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Không lạ gì mà Vua Hê-ro-đê "bối rối" khi được tin "vị vua dân Do Thái mới sinh ra". Ông đang ngồi chễm chệ trên ngai vàng. Vị vua mới sinh ra lại không thuộc dòng dõi của Ông. Làm sao mà Ông có thể ăn ngon ngủ yên được trước tin động trời này.


Không những triều đình "bối rối", mà cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Dân chúng xôn xao vì đây là tin mừng lớn lao. Đã từ lâu, dân tộc họ, đất nước họ nằm dưới ách thống trị của đế quốc Rôma. Nay tin "vị vua dân Do Thái mới sinh ra" đem đến cho cả thành một niềm hy vọng mới.


Trước biến cố "vị vua dân Do Thái mới sinh ra", thánh sử Mát-thêu đã phác họa lại ba thái độ và ba phản ứng khác nhau:


1. Thái độ và phản ứng của Vua Hê-ro-đê: Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: "Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân ta sẽ ra đời".


Sau đó Hê-ro-đê tiếp tục bí mật điều tra các nhà chiêm tinh về "giờ ngôi sao xuất hiện" và dặn dò kỹ lưỡng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lậy Người". Ai trong chúng ta cũng hiểu ý thâm độc của Vua. Vì sau khi các nhà chiêm tinh "được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-ro-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình". Bấy giờ vua Hê-ro-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh (Mt 2, 16-17).


2. Thái độ và phản ứng của dân thành Giêrusalem, tượng trưng cho thái độ của toàn dân Do Thái: Thoạt đầu, "cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao". Các thượng tế và kinh sư khi được nhà vua Hê-ro-đê triệu vời đến để hỏi về nơi sinh của "vị vua dân Do Thái mới sinh ra", họ đã lục lọi kinh thánh và đã trả lời nhà vua một cách dễ dàng, khi họ tham chiếu lời tiên báo của Ngôn sứ Mikêa 5,1. Nhưng sau đó không thấy có một thượng tế, một kinh sư nào, hoặc một người dân thành Giê-ru-sa-lem lên đường đi tìm "vị vua dân Do Thái mới sinh ra". Họ "chỉ đường" cho Hê-ro-đê tìm giết để loại trừ đối thủ của ngai vàng của ông. Họ "chỉ đường" cho các nhà chiêm tinh biết đường tìm đến "vua mới sinh". Còn họ đứng ngoài cuộc.


Như chúng ta đều biết: Thánh sử Mát-Thêu viết Tin Mừng Chúa Giêsu bằng tiếng A-ram (tiếng Do thái cổ) và nhắm vào các độc giả là những cộng đoàn Kitô giáo gốc Do Thái giáo trở lại đạo và đồng bào Do Thái nói chung, để họ nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Mêsia (Đấng Cứu Thế) mà dân tộc từng trông đợi. Như vậy chủ tâm viết đoạn Tin Mừng này, Thánh sử Mát-thêu muốn nêu bật tư tưởng chính yếu: Tin mừng cứu độ đã được loan báo cho dân Ítraen trước nhất, nhưng họ đã không tiếp nhận. Nay Tin mừng này được loan báo cho toàn thể lương dân. Dân Do Thái hằng mong đợi Đấng Cứu Thế đến, nhưng khi Ngai đến, họ không thèm đón nhận người. Họ thông thạo kinh thánh, họ biết nơi sinh của Đấng Cứu Thế, nhưng tất cả các thượng tế và kinh sư, những người đứng đầu lãnh đạo dân, và toàn thể Giê-ru-sa-lem, không ai bận tâm đến biến cố này...Sau một ít phút "xôn xao", họ lại tiếp tục với những mối bận tâm khác, với những đam mê và mong đợi khác. Hai ngàn năm sau, họ vẫn đến gục đầu bên bức tường than khóc và vẫn còn chờ mong một đấng Cứu Thế khác.


3. "Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Người".


Ngược lại với hai thái độ trên, là thái độ của những nhà chiêm tinh:

- Họ tỉnh thức theo dõi các biến chuyển trong vũ trụ. Nhận ra dấu chỉ của Đấng Cứu Thế qua việc xuất hiện vì sao lạ.

- Họ lên đường theo sự hướng dẫn của "ánh sao" và quyết tâm tìm kiếm cho bằng được "Vị Vua mới sinh", dù bị thử thách, lạc mất ánh sao tại Giê-ru-sa-lem.


- Họ tin nhận "Vị Vua mới sinh" là Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi, mặc dù khung cảnh bên ngoài khác với lòng họ tưởng: "Vị Vua mới sinh" thật nghèo hèn, sinh ra không ở cung điện vua, Mẹ ngài là một người đàn bà nhà quê, nhưng "Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là Bà Maria, liền sấp mình thờ lậy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến".


Theo vết chân của mấy nhà chiêm tinh xưa, chúng ta hãy biết tỉnh thức để khám phá ra những dấu vết sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống, qua các biến cố thường ngày. Hãy kiên tâm theo sự hướng dẫn của "ánh sao" chỉ đường. Hãy tin nhận "sấp mình thờ lậy" Đấng Cứu Thế mới sinh ra.


Lễ Chúa Hiển Linh xưa vẫn được gọi là Lễ Ba Vua, hay Lễ Chúa tỏ mình cho muôn dân. Hôm nay, tất cả Giáo Hội Chính Thống mừng Lễ này như đại lễ Giáng Sinh. Tất cả chúng ta cùng hiệp thông trong niềm tin vào Chúa Cứu Thế với hàng mấy trăm triệu anh chị em tín hữu Chính Thống giáo và cùng nguyện cầu xin Chúa là ánh sáng muôn dân, là ngôi sao dẫn đường cho tất cả muôn dân tìm về nguồn cứu độ chân thật.

Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu

HAI HƯỚNG DẪN VIÊN
Mt 2, 1 - 12

Năm 2000, năm bản lề giữa hai thiên niên kỷ, được đánh dấu bởi cuộc Toàn xá của Giáo Hội Công giáo toàn cầu. Riêng tại Việt Nam, nó còn được đánh dấu bằng việc đứng lên của các tôn giáo để ôn hòa đòi lại cho mình tự do trong sinh hoạt và độc lập trong tổ chức. Những lời kêu gọi khẩn thiết của các vị lãnh đạo tinh thần như thầy Thích Quảng Độ bên Phật giáo, cụ Lê Quang Liêm bên Hòa Hảo, cha Chân Tín và cha Nguyễn Văn Lý bên Công giáo v.v..., tất cả đã như một ánh sao soi đường cho lắm tâm hồn chìm đắm trong u tối của thái độ ù lì, nhẫn nhục, cam chịu, quen với việc "xin" quyền lực thế tục vô thần ban cho cái mà họ không có như việc tuyển sinh, huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm các chức sắc của đạo. Những lời kêu gọi đó cũng như một tiếng chuông cảnh tỉnh những kẻ độc tài chỉ muốn biến các tổ chức tôn giáo thành công cụ cho mình bằng những biện pháp hành chánh nghiệt ngã, thậm chí bằng bạo lực. Cho tới lúc này đây, những tiếng nói can đảm này đang bị coi là một sự đe dọa bởi quyền lực cũng như đang gặp phải sự thờ ơ nơi lắm con người lẽ ra phải biết mình cần được giải phóng để chu toàn sứ mệnh tôn giáo của mình cách đích thực. Phải chăng sự kiện trong bài Tin Mừng lễ Hiển Linh hôm nay lại được tái diễn?

Một chuyên gia Thánh Kinh đã viết rằng: "Trình thuật các Nhà Chiêm tinh xuất hiện như một hợp tuyển nhỏ gồm nhiều bản văn Thánh Kinh làm nên cho chúng ta một suy niệm tuyệt tác về Lời Thiên Chúa. Trong đó, ta dễ dàng nhận ra các nhân vật và biến cố lịch sử cổ xưa của Israen. Thi ca, lịch sử, thần học, bút chiến và hộ giáo góp phần biến câu chuyện này thành một bản văn phong phú và quan trọng của giáo lý sơ thủy, có chủ đích chính yếu là kêu gọi lương dân đến với đức tin".


Trình thuật được viết theo một thể văn hết sức đặc biệt mà ta không nên coi là lịch sử thuần túy, để hiểu nó đến từng chi tiết mặt chữ. Nó vừa dựa trên một số dữ kiện lịch sử đương thời (nhân vật Hêrôđê với tính khí đa nghi và tàn ác chẳng hạn), vừa báo trước nhiều chủ đề tương lai trong Tin Mừng Mátthêu (tuyển dân từ khước Đức Giêsu đang lúc lương dân lại đón nhận Người) theo kiểu khúc dạo đầu của một cuốn phim hay một bản nhạc.


1. Hướng dẫn viên của vũ trụ và của lý trí


Mở màn sân khấu, ta thấy các chiêm tinh gia (hay còn gọi là đạo sĩ) bước vào. Họ hợp thành thế giới Đông phương, thế giới ngoại lai xa lạ đối với chính Kinh Thánh. Chẳng những tượng trưng cho cả một khu vực văn hóa và chủng tộc, họ còn hiện thân cho nỗi chờ mong Đấng Mêsia của nhân loại, tọa độ đích thật của cuộc sống con người. Quả thế, mọi con đường mà không dẫn đến nhà thờ, mọi hành vi mà không quy về việc tạ ơn, mọi thực tại mà không trở thành Thánh Thể thì hỏi còn đâu ý nghĩa? Nữ hoàng Sơ-va vốn đã đi tìm khôn ngoan tại Giêrusalem từ Salomon và các chiêm tinh gia Mêđi hay Lưỡng Hà tiến về Thành thánh tìm một ông vua-cứu thế, cả hai bên đều là hiện thân cho nỗi khắc khoải muôn thuở của con người vốn chỉ có thể tìm thấy an bình trong Thiên Chúa.


Và chính vũ trụ với ngôn ngữ im lặng của nó (Tv 19) là hướng dẫn viên thứ nhất trong cuộc kiếm tìm này. Quả thế, ngôi sao đã chiếm chỗ lớn biết bao trong suy tư của các chiêm tinh gia đoán điềm giải mộng. Thường hiện diện như dấu chỉ huyền thoại tiên báo cuộc đản sinh của các vĩ nhân, vua chúa, thần linh trong thế giới cổ từ đông sang tây (hoàng đế Alịchsơn, Augustô của La-Hy hay thần Agni của Ấn giáo...), hướng dẫn viên sáng ngời đó có một ý nghĩa xác định trong Thánh Kinh.


Khi viết trang này, Mátthêu đã hiểu rõ nó và ngầm sử dụng một bản văn Kinh Thánh thời danh được Do thái giáo coi như chìa khóa giải mã bí mật Đấng Mêsia. Bilơam, một thầy bói aram hay ammônít gì đó, được vua Balác mời đến để nguyền rủa Israen, đã chỉ có thể thốt lên những lời chúc phúc và buột miệng: "Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên: một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israen" (Ds 24,17). Một bản văn Do thái giáo thời danh (bản 70) đã dịch câu đó thành: "Một vì vua xuất hiện từ Giacóp, một đấng Mêsia trỗi dậy từ Israen". Ngôi sao do đó ngày càng trở thành biểu tượng của vua mêsia, nên sách Khải huyền sẽ gọi Đức Kitô như "Sao Mai" là vì vậy (Kh 2,28; 22,16). Thật thế, ánh sáng là hậu cảnh trong mọi cuộc xuất hiện của đấng Mêsia, như Isaia đã hát trong thánh thi tuyệt diệu về Đấng Emmanuen của mình: "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi" (9,1). Ánh sáng tiêu diệt bóng tối, biểu tượng của hư vô (x. St 1,2) lẫn chết chóc, và ban khởi đầu cho một cuộc sáng tạo mới.


2. Hướng dẫn viên của mạc khải


Bên cạnh hướng dẫn viên của vũ trụ và của "lý trí" là ngôi sao, một hướng dẫn viên được xếp vào loại "những công trình của Thiên Chúa" (Rm 1,20), có một hướng dẫn viên thứ hai, mang tính thần học và biệt loại hơn, đó là Kinh Thánh, được chứng nhận trong trường hợp chúng ta bởi đoạn văn thời danh của Mikha 5, được Mátthêu biên soạn lại: "Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israen dân Ta sẽ ra đời". Chính Israen là người thụ thác sự hướng dẫn sáng tỏ hơn này của ngôi sao; tuy nhiên, vì đóng kín trong thái độ dửng dưng và đần độn, Israen đã không biết đọc hiểu ý nghĩa sâu xa của nó. Nên vị mục tử/lãnh tụ được sai đến với đoàn chiên lạc của nhà Israen sẽ chỉ được khám phá bởi những những ngoại, "đến từ Đông phương" và được cho ngồi vào bàn tiệc trong niềm vui hiệp thông với Thiên Chúa. Thật thế, Mátthêu nêu bật niềm vui lớn lao ("họ mừng rỡ vô cùng") các đạo sĩ có khi đón nhận mạc khải dành cho họ. Trái lại, ở hậu cảnh, dần dần nổi rõ biểu tượng của sự từ chối, được hiện thân trong một ông vua khác, Hêrôđê, và "cả thành Giêrusalem cùng với ông" (c. 3). Israen chủng tộc chẳng còn là "Israen thật của Thiên Chúa"; việc thuộc một cộng đoàn nhờ huyết thống và truyền thống, việc ghi vào sổ một giáo hội không đủ để được cứu rỗi.


Giờ đây mọi chú ý đều hướng về những "tín hữu mới và thật", các đạo sĩ. Họ đi vào cung điện khiêm tốn của vị vua mới sinh "nhà", (c. 11), thấy ở giữa là Đức Kitô và mẹ của Người. Họ sấp mình thờ lạy Người trong cử chỉ tôn thờ của phụng vụ Kitô giáo chứ không chỉ trong cử chỉ sùng bái kiểu đông phương. Các lễ vật của họ, điển hình của miền Lưỡi liềm phì nhiêu, phản ảnh lối đọc lại của Kitô giáo đối với bài ca vĩ đại làm nên bài đọc thứ nhất hôm nay: "Lạc đà từng đàn che rợp đất..., tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa" (Is 60,6). Hoặc là lối đọc lại thánh vịnh đáp ca 72,10: "Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Sơ-va, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng...".


"Sau đó họ đã về xứ mình" (c.12): cuộc phiêu lưu của những tín hữu ngoại giáo đầu tiên này chấm dứt, nhưng câu chuyện của họ là một biểu hiệu đối với tất cả những ai, qua các thế kỷ, nhờ sự hướng dẫn của lý trí và lời Thiên Chúa, đi tìm Thiên Chúa với tấm lòng đơn sơ. Những ngoại và những người nghèo (các mục tử) là những công dân ưu đãi của Vương quốc được Đức Giêsu thiết lập tại Bêlem.

Lm Phan Văn Lợi

LỄ CHÚA TỎ MÌNH RA
Mt 2, 1 - 12

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình ra. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy : Đấng Messia không còn là của riêng người Do thái nữa, nhưng Ngài tỏ mình ra cho mọi dân tộc.

Ngôi sao dẫn đường.


Do thái thuộc đông phương; và theo văn hóa và khoa chiêm tinh của người đông phương thì mỗi vị vua sinh ra đêù có một ngôi sao chiếu mệnh. Ba nhà đạo sĩ có lẽ là những nhà chiêm tinh học, nên đã nhận ra ngôi sao chiếu mệnh của vua người Do thái mới sinh ra.


Ngôi sao chiếu mệnh nầy không như những ngôi sao chiếu mệnh của các vị vua khác, vì nó còn là ngôi sao đi trước ba nhà đạo sĩ, dẫn đường cho họ đến với Chúa. Thiên Chúa đã dùng các thiên thần để báo cho các mục đồng biết Chúa đã đến trong thế gian. Nay Thiên Chúa dùng một tinh thể làm dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa Giêsu và dẫn ba nhà đạo sĩ đến với Chúa. Xưa trong sa mạc, Thiên Chúa cũng đã dùng cột mây và cột lửa để nói với dân về sự hiện diện của người giữa dân. Thiên Chúa có thể dùng thiên thần, con người(các mục đồng) hay một vật(ngôi sao) để làm dấu chỉ của sự hiện diện của Chúa.


Ngày nay, ai là ngôi sao dẫn đường cho chúng ta đến với Chúa ? Ngôi sao đó trước hết la Giáo Hội("chúng con là ánh sáng thế gian"), là một vị thánh, là một linh mục, là một kitô hữu gương mẫu...Và ngôi sao soi sáng và dẫn đường cách đặc biệt là Phúc Âm.


Với lời dạy của Chúa Giêsu : "Chúng con là ánh sáng thế gian...ngọn đèn phải để trên đế, để soi sáng cho mọi người trong nhà", mỗi người kitô hữu phải là một ngọn đèn, nghĩa là một ngôi sao dẫn đường cho kẻ khác. Cha mẹ là ngôi sao dẫn đường cho con cái, những người có trách nhiệm phải là ngôi sao dẫn đường cho những người mình chịu trách nhiệm; linh mục tu sĩ phải là ngôi sao dẫn đường cho dân Chúa; và mỗi người kitô hữu phải là ngôi sao dẫn đường cho những ai chưa biết Chúa.


Tính phổ quát của vì vua mới.


Sự hiện diện của các mục đồng, của ngôi sao và của ba nhà đạo sĩ nói lên rằng: Đấng Messia mới sinh ra không còn là của riêng của những kẻ tử tế, Biệt Phái và Kinh sư nữa, nhưng trước hết Ngài là của những kẻ thấp hèn tội lỗi hay bị khinh chê, như các mục đồng, vì họ là những người đầu tiên được vinh dự đến với Chúa. Ngài không còn là của riêng của dân Do thái mà thôi, nhưng còn là vua của những kẻ ngoại giáo, xa xôi mà ba nhà đạo sĩ là ba đại diện; sự hiện diện của ngôi sao cũng nói lên rằng, Ngài còn là vua của cả vũ trụ nữa. Ngôi sao cũng phải phục vụ Chúa.


Vua Herôđê bối rối


"Nghe nói thế,vua Herôđê bối rối, và tất cả Giêru- salem cùng với nhà vua": Chúa sinh ra, các thiên thần ca hát, các mục đồng vui mừng, ba nhà đạo sĩ từ phương đông xa xôi đến thờ lạy, còn vua Herôđê và cả Giêrusalem thì bối rối. Hêrôđê bối rối lo lắng vì sợ mất ngôi vua của mình. Các giáo trưởng và luật sĩ bối rối vì vị vua nầy đến mà không thông báo gì cho họ lại tỏ mình ra cho dân ngoại. Họ thấy chỗ đứng của mình bị lung lay. Thế là họ tìm cách tiêu diệt Ngài.


Họ không hiểu rằng vị vua nầy đâu có thèm gì ngôi báu một khi đã chấp nhận sinh ra trong chuồng bò. Họ không hiểu rằng vị vua nầy, đâu phải để cai trị nhưng để cứu vớt.


Ngày nay cũng thế, người kitô hữu phải hiểu rằng Thiên Chúa không phải là của riêng người công giáo mà là Thiên Chuá của mọi người, và Giáo Hội không chỉ là của riêng người có đạo mà là Giáo Hội của mọi dân tộc, của kẻ lành cũng như người bất lương. Vì Con Thiên Chúa đến để cứu vớt chứ không phải để lên án hay cai trị. Chúa sinh ra trong ngheo khó và sau nầy bị khinh chê và bắt bớ. Nên phải bỏ đi cái mơ ước hảo huyền một Giáo Hội giàu sang và quyền thế trước mặt người đời. Phải bỏ đi cái quan niệm một thứ đạo phô trương. Đừng lặp lại cái lỗi lầm của người Do thái, mơ ước một vị vua quyền thế và cao sang. Nếu không thì Chúa sẽ làm cho chúng ta thất vọng vì ngài không hề đáp ứng những mơ ước hảo huyền của ta. Và rồi chúng ta cũng sẽ bối rối như Herôđê, các Biệt Phái và kinh sư xưa trước sự hiện diện khiêm tốn của Chúa.


Đi tìm Chúa hôm nay.


Chúng ta đã thấy, một những ngôi sao dẫn đường cho chúng ta hôm nay đến với Chúa làLời Chúa.Chính nhờ đọc và suy gẫm Lời Chúa mà chúng ta nhận ra Chúa trong cuộc sống. Phúc Âm sẽ vẽ lên cho chúng ta gương mặt đích thực của Chúa Kitô chứ không phải khuôn mặt theo những mơ ước trần tục của chúng ta. Phúc Am sẽ là ngôi sao dẫn đường cho chúng ta đến với Chúa Giêsu.


Vị vua thứ tư.


Chuyện kể rằng, khi Ba vua Gaspar, Melchior, Balthazar và đoàn tùy tùng vừa đi khỏi làng Bêlem, thì vị vua thứ tư hớt ha hớt hải chạy đến. Ông cũng đã thấy ngôi sao, ông dắt vào lưng ba viên ngọc quí, gia sản quí nhất của ông và vội vã lên đường cho kịp Nhưng ông đến trễ, ba vua kia đã về mất rồi!...Ông đến trễ và nhất là đến với hai bàn tay không... ông không còn các viên ngọc quí nào nữa...


Ông từ từ nhẹ tay mở cửa chuồng bò, nơi có Con Thiên Chúa, Mẹ người và người cha nuôi của Người. Trời tối, Giuse đang trở mớ rơm để qua đêm, bé Giêsu nằm trên tay Mẹ.


Rón rén, vị vua thứ tư tiến lại gần, phục mình dưới chân bé Giêsu và Mẹ Người và bắt đầu nói qua giòng nước mắt:


-
Lạy Chúa, con đến để dâng lên ngài lễ vật như ba vị vừa rồi, dâng cho Chúa ba viên ngọc to như trứng bồ câu, ba viên ngọc thứ thiệt. Nhưng giờ đây không còn nữa...Con thấy ba vị kia đi trước con trên lưng lạc đà, con định tiến lên đi với họ. Nhưng rồi rượu ngọn, tiếng chim họa mi hót làm con say mê. Đêm đó con ở lại trong một quán trọ. Khi con bước vào, con thấy một cụ già lên cơn sốt rét, nằm co quắp bên lò sưởi. Không ai biết ông ta là ai. Túi tiền ông rổng tuếch. Ông không có tiền trả tiền thuốc và những thứ cần thiết. Ngày mai, ông sẽ bị đuổi ra ngoài. Lạy Chúa, đó là một cụ già, rất già, nước da sậm và có bộ râu trắng. Ông làm con nhớ đến cha con. Lạy Chúa, xin tha cho con, con lấy một viên ngọc trong túi và đưa cho chủ quán để ông lo tìm thầy chạy thuốc và nếu ông ấy chết, thì có một cỗ quan tài che xác ông.

Ngày hôm sau, con ra đi, dục con lừa của con chạy cho kịp ba vị kia vì lạc đà họ đi chậm. Con đường con đi qua vắng vẻ, có nhiều bụi rậm. Bổng con nghe tiếng kêu cứu từ một bụi rậm. Con nhảy xuống lừa và thấy mấy chú lính đang bắt nạt một thiếu phụ trẻ. Họ đông quá, con thấy mình không đủ sức đọ lại với họ. Hơn nữa con đã già rồi. Lạy Chúa, xin tha cho con lần nầy nữa. Con đưa tay vào túi lấy một viên ngọc thứ hai và chuộc lại người thiếu phụ. Cô ta hôn tay con rồi chạy như bay vào miền núi như một con sóc.

Giờ đây chỉ còn lại có một viên nữa thôi, nhưng con nghĩ, có còn hơn không. Lúc đó đã quá trưa, và con nghĩ mình có thể đến Bêlem trước lúc trời tối. Nhưng kìa lính Hêrôđê đang hung hăng đốt cháy một làng gần Bêlem. Con chạy tới và và hỏi thăm thì con biết lính tráng đang thi hành lênh của vua: giết tất cả các con trẻ từ hai tuổi trở xuống. Ngoài một căn nhà đốt cháy, một tên lính to khỏe, đang nắm trong tay một em bé trần truồng, đưa đi đưa lại. Đứa bé hết sức dãy dụa và khóc thét lên vì sợ. Người mẹ thì đang quì lạy và khóc ngất. Anh lính nói với mẹ nó "Bây giờ tao sẽ cho nó vào lửa và nó sẽ cháy như một con heo sữa quay!" Mẹ nó la lên thảm thiết...

Lạy Chúa, xin tha cho con ! Không chịu nổi, con lấy viên ngọc cuối cùng trao cho tên lính để nó trao em bé cho mẹ nó. Mẹ nó ôm chặt lấy con, áp cứng vào lòng, không một tiếng cám ơn, chạy trốn như một con chó tìm được miếng xương. Lạy Chúa thế là con đến đây với hai bàn tay không. Xin Chúa tha cho con, xin tha cho con...


Nói xong ông sấp mặt sát đất hồi lâu. Thinh lặng bao trùm chuồng bò. Rồi ông ngước đầu lên, thấy Giuse đã trở rơm xong, Chuá vẫn nằm trong tay Đức Mẹ. Từ từ, Chúa quay về phía ông, gương mặt Ngài rạng rỡ. Chúa chìa đôi tay tí hon cho đôi tay trống không của vị vua thứ tư, bé Giêsu và Mẹ đều mỉm cười...

Lm. Damien OFM

LỄ HIỂN LINH
Mt 2, 1 - 12

Một trong những trại tù binh lớn nhất mà người Nhật thiết lập cuối thế chiến thứ hai là trại tù bên bờ sông Quế (Kwei river) thuộc tỉnh Kanchanaburi của Thái Lan. Nơi đây đã có tới 12 ngàn tù binh bị chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn bạo trong khi họ phải xây dựng một tuyến đường xe lửa.

Kẻ Thù Số Một


Đám tù nhân bị cưỡng bức lao động dưới cơn nóng có khi lên tới 490C. Đầu trần, chân đất họ vác từng thúng đất đá trên vai, để xây dựng cho xong toàn bộ tuyến đường sắt đã được chỉ định. Đúng là cảnh màn trời chiếu đất theo nghĩa đen, vì họ nằm ngủ trên đất không chăn chiếu. Nhưng kẻ thù số một không phải là cai tù hoặc bọn lính gác, cũng không phải là cuộc sống gian khổ, mà là chính bản thân họ. Theo lời kể lại của tác giả Ngô Văn Đông (Ernest Gordon) trong cuốn "Ngang qua thung lũng sông Quế" thì vì quá sợ, đám tù binh nói trên mắc chứng hoang tưởng. Họ cư xử với nhau theo luật rừng, lại còn trộm cắp của nhau, ngờ vực và chỉ điểm lẫn nhau. Họ trở nên trò cười đối với bọn lính gác. Bởi lẽ trước kia họ là binh hùng tướng mạnh mà nay trở nên hèn nhát và phá hoại nhau!


Điều Không Thể Xảy Ra Đã Xảy Ra


Thế rồi một điều xem ra không thể xảy ra đã xảy ra. Số là có hai người trong đám tù nhân đứng ra tổ chức cho các bạn tù thành những nhóm học hỏi Kinh Thánh. Điều lạ lùng là đám tù nhân qua đó khám phá ra Chúa Giêsu hiện đang sống động giữa họ. Người hiểu rõ hoàn cảnh của họ. Chính Người cùng chung số phận với họ để cứu họ khỏi cảnh lầm than. Người đã từng chịu đói khát, từng bị phản bội, từng nếm những lằn roi quất trên lưng và cuối cùng bị người ta giết chết. Chính vì Người luôn kết hợp với Cha trong kế hoạch cứu nhân độ thế nên Thiên Chúa đã siêu tôn và đặt Người làm Chúa của mọi người và mọi sự. Thế là tất cả những điều liên quan tới Chúa Giêsu, về con người của Người, về những gì Người nói, những việc Người làm đều tràn đầy ý nghĩa và trở nên sống động đối với chính họ. Đám tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nữa. Họ không còn chỉ điểm, không còn phá hoại lẫn nhau nữa. Họ biểu lộ việc hoán cải tự thâm sâu như thấy rõ qua những lời cầu nguyện tự phát. Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn là cho chính mình. Họ chỉ ước mong để đỡ bị gò bó hầu tự do chia sẻ cho nhau nhiều hơn trong cuộc sống. Dần dà, cả trại được biến đổi đến nỗi không chỉ đám lính Nhật canh gác phải lấy làm lạ mà chính các tù binh cũng hết sức ngạc nhiên!


Khác Biệt Giữa Sự Chết Và Sự Sống


Một đêm nọ, sau cuộc họp với nhóm học hỏi Kinh Thánh, tác giả Ngô Văn Đông khập khiễng bước về căn trại của ông. Đang lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng người ca hát. Ông nhận thấy có người đang dùng một mảnh gỗ gõ vào một chiếc lon thiếc để giữ nhịp. Tiếng mảnh gỗ gõ vào lon thiếc cùng với tiếng hát khiến cho bóng đêm tự nhiên trở nên có sự sống. Điều khác biệt giữa tiếng hát vui tươi lúc đó và cái lặng thinh chết chóc của những tháng trước đó giống hệt điều khác biệt giữa sự sống và sự chết, giữa một đám người chia rẽ phá hoại nhau và một lớp người có Chúa Giêsu Phục Sinh linh hoạt ở giữa họ.


Nhưng thử hỏi trong dịp lễ kính Chúa Hiển Linh sau No-en, mà đề cập tới Chúa Phục Sinh sợ có quá sớm chăng? Chúa Hiển Linh là gì? Người bày tỏ bản thân Người cho ta như thế nào ở giữa xã hội ta đang sống?


Một Mầu Nhiệm Duy Nhất


Thực ra, chỉ vào khoảng 375, hai lễ lớn là Sinh Nhật trong Giáo Hội Roma và Hiển Linh trong Giáo Hội Đông Phương mới xuất hiện trong nền phụng tự Kitô giáo. Trước đó, các Kitô hữu chỉ cử hành một mầu nhiệm duy nhất là sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô, mỗi tuần vào ngày Chúa Nhật và mỗi năm vào mùa Phục Sinh. Nhưng điểm phát xuất của cả hai lễ Giáng Sinh và Hiển Linh cũng là việc nhìn nhận Chúa Giêsu là nguồn bất diệt của một mùa xuân phong phú. Roma cử hành lễ sinh nhật của Chúa vào ngày 25 tháng 12. Đó là ngày Xuân Phân của Tây Phương, nên được chọn để mừng biến cố sinh ra của Đấng là Ánh Sáng thế gian. Hôm đó dân ngoại thờ thần mặt trời mà họ tin là "Mặt trời bất diệt" vượt lên từ bóng tối của mùa Đông. Còn người Kitô chọn ngày đó để mừng Chúa giáng trần, nào chẳng phải là để nhìn nhận Người mới là Mặt Trời bất diệt duy nhất đó sao? (x Lc 1,78). Riêng ở Ai Cập, dân ngoại mừng lễ Xuân Phân vào ngày 6 tháng 1. Nhiều nghi lễ ngoại giáo được tổ chức vào ngày đó. Cho nên để tránh cho người Công Giáo khỏi vướng mắc vào dịp đó, Giáo Hội Đông Phương ở đây chọn ngày 6 tháng 1 làm lễ mừng Chúa Hiển Linh. Điều đặc biệt là người Ai Cập sống lệ thuộc nhiều vào sông Nil phì nhiêu, tựa như dân Việt ta lệ thuộc nhiều vào hai con sông Hồng Hà và Cửu Long. Cho nên điều dễ hiểu là người Công Giáo Ai Cập chọn mừng Chúa tỏ thần tính của Người bên bờ sông Giođan thay vì mừng Người sinh ra trong cảnh cơ hàn của Bêlem lạnh lẽo. Họ chọn cảnh "Đức Giêsu vừa ở dưới nước lên, thì kìa các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và kìa có tiếng từ trời phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người." (Mt 3,16-17). Lễ Hiển Linh mà người Ai Cập mừng đã mau chóng được tất cả Giáo Hội Đông Phương mừng theo.


Nhưng trang Tin Mừng Mátthêu 2,1-12, kể lại việc các đạo sĩ từ phương Đông xa xôi tới thờ lạy Hài Nhi Giêsu sinh ra tại Bêlem, không thể không lôi cuốn niềm ngưỡng mộ của người Kitô mà đa số có gốc dân ngoại. Các đạo sĩ này quả thực là tổ phụ của họ, đã trở nên hoa trái đầu mùa của dân ngoại khi Tin Mừng được loan báo. Các đạo sĩ ấy đại diện toàn thể dân ngoại trong việc tôn vinh Con bà Maria, cũng là Con của Thiên Chúa.


Sau này khi lễ Chúa Hiển Linh được cử hành rộng rãi ở xứ Galia của Pháp Quốc sau này, người ta còn mô tả việc Chúa Hiển Linh qua việc Người khiêm nhường chịu phép rửa của Gioan, và qua việc Người tỏ mình ra tại Cana với điều nhấn mạnh là "Chúa tỏ vinh quang của Người ra, và các môn đệ tin vào Người" (Ga 2,11)


Như vậy việc Thiên Chúa tỏ thần tính của Người ra nơi Đức Giêsu bao gồm biết bao là biến cố và mầu nhiệm trong đời Người. Các biến cố hay đúng hơn, các mầu nhiệm của đời Người, được mừng kính dọc theo năm phụng vụ thực ra chỉ là "những phương diện khác nhau của mầu nhiệm phục sinh duy nhất của Người" (Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1171).


Thánh Linh Thực Hiện Mầu Nhiệm Duy Nhất của Chúa Giêsu


"Phụng vụ Kitô giáo không chỉ nhắc nhở những biến cố cứu độ, nhưng còn hiện thực hoá những biến cố đó. Do đó mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô được cử hành nhưng không lặp lại, tuy chúng ta lặp lại nhiều lần cuộc cử hành. Mỗi lần cử hành phụng vụ, Thánh Linh lại đổ ơn chan hoà. Ngài hiện thực hoá mầu nhiệm duy nhất của Đức Kitô." (Ibid., sô 1104).


Câu chuyện nói trên của tác giả Ngô Văn Đông gợi ý cho ta thấy chút nào đó về việc Thiên Chúa tỏ thần tính của Người trong một hoàn cảnh hết sức bi đát. Đó là hoàn cảnh của những tù nhân vì quá sợ hãi nên mắc bệnh hoang tưởng. Họ chỉ điểm lẫn nhau và trở nên những kẻ thù của nhau! Chính trong hoàn cảnh cùng cực đó Lời Chúa được cử hành nơi những nhóm học hỏi Kinh thánh. Và điều lạ lùng là chính Chúa Giêsu với mầu nhiệm Phụx Sinh duy nhất của Người, hiện diện một cách vô hình, nhưng tác động một cách hữu hình qua việc Người biến đổi những con người cụ thể.


* Trước hết, Người ban cho các nhóm tù nhân học hỏi Kinh Thánh ánh sáng đức tin để trí hiểu của họ thấy được Người đang sống động ở giữa họ. Họ phần nào giống như các đạo sĩ được ban cho ơn "thấy vì sao của Đức Vua dân Do Thái xuất hiện bên phương Đông nên đến bái lạy Người" (c.2 và 9).


Chúa Giêsu Tự Hiến Để Cứu Họ


* Người ban cho họ chính bản thân Người tự hiến để cứu họ khỏi cảnh lầm than mà họ đang phải gánh chịu một cách vô vọng. Do đó đám tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nữa. Ở đây các tù nhân phần nào giống như các đạo sĩ được báo mộng (c.12) để khỏi trở về con đường cũ họ vẫn theo. Tức là các tù nhân không còn trở về với nếp sống ngờ vực và phá hoại lẫn nhau nữa.


Nhất là các tù nhân được ban cho ơn đáp lại tình yêu Chúa ban một cách quảng đại. Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn là cho chính mình. Họ ước mong được tự do chia sẻ cho nhau nhiều hơn trong cuộc sống. Họ phần nào noi gương các đạo sĩ đã quảng đại dâng Hài Nhi Giêsu những lễ vật quý báu họ mang theo (c.11)


Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn thấy qua việc học hỏi và chia sẻ Kinh Thánh, những nhóm tù nhân trong câu chuyện của tác giả Ngô Văn Đông, được thay đổi về phương diện nào mà bạn cho là đáng kể nhất?

2. Bạn nghĩ tại sao các tù nhân trong câu chuyện của tác giả Ngô Văn Đông, thấy Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của họ? Chính bạn có kinh nghiệm nào về việc Chúa Giêsu gần guĩ trong hoàn cảnh sống của bạn?

Lm. Augustine, SJ.

Nguồn vietcatholic.org

12873    03-01-2013 22:10:35