Sidebar

Chúa Nhật

14.07.2024

Đức Thầy Vêrô_1


THƠ ĐỨC THẦY VÊRÔ GỬI VỀ XIN LỖI CÙNG CHA MẸ


" Trước trọng kính mẹ cha bá bái,

Sau dưng câu vạn phước bình an. 40

Kể từ ngày con mới dời sang,

Lòng thương nhớ mẹ cha hết sức.

Bỏ quê hương thật lòng nên cực,

Cách mấy em biết mấy đoạn sầu !

Bởi bấy lâu con đã khẩn cầu, 45

Lòng quyết chí kiếm tìm chiên lạc.

Dầu cực khổ cam bề gánh vác,

Cho nhiều người hồn đặng tiêu diêu.

Dốc một lòng giảng dạy mười điều,

Mở đạo Chúa danh Cha cả sáng. 50

Lúc gần đi lòng sầu lai láng,

Muốn tỏ cho cha mẹ biết hay.

Song sợ vì nhiều nỗi đắng cay,

Song thân bảo không cho dời bước.

Sự hiếu trung con chưa đền được, 55

Lại làm cho cha mẹ héo don.

Công phụ hiền, báu tợ núi non,

Ơn từ mẫu, thì con chưa trả.

Lạy mẹ cha dấu yêu vô giá,

Mười chín con, còn lại mười hai. 60

Dưng con cho Đấng tạo muôn loài,

Hầu dạy dỗ các người tha xứ.

Lạy mẹ cha xuống ơn tha thứ,

Bởi Chúa đà định để cách nhau.


" Kiểng lạ thay! Vắng vẻ trước sau; 65

Muôn điều hiểm, trăm đàng tư lự.

Con nay dám tỏ điều tâm sự,

Cho cha mẹ đặng biết, đặng hay.

Nhà của con thật rất hèn thay,

Lợp bằng lá, kín mưa, đỡ gió. 70

Phận con nay rất nên nghèo khó,

Song học trò nuôi đặng bốn mươi.

Ước trông sau dạy dỗ người người,

Cho chúng nó nối quờn linh mục.

Giúp địa phận, muôn dân tùng phục, 75

Cho đạo rày nổi tiếng danh vang.

Lúc bây giờ bổn đạo nghèo nàn,

Đặng ít ít chưa đông gì mấy.

"Chỗ Hà Tiên, khắp trong nơi ấy,

Gần núi non, gần biển, gần rừng. 80

Sớm lòng con dạ những bưng khuâng,

Chiều thơ thẩn vào ra cửa ngõ.

Ngó xuống sông, thảm thương võ võ,

Thấy những thuyền thương mãi vãng lai.

Xem trên trời, lộng lộng quang khai, 85

Những cầm thú bay qua, bay lại.

Chốn núi non, con sầu bải hoải,

Nơi rừng già quạnh quẻ tư lương.

Đường vơi vơi, huyền viễn vô thường,

Nẻo vọi vọi, trông đà lắt léo. 90

Ve dắng dỏi, lòng buồn khô héo,

Dế ngâm sầu, từ đoạn nhớ thương.

" Khốn thân con! Nhiều nỗi tai ương,

Vì cấm đạo ghe đường khổ não.

Bắt con rày vô phương khả đảo, 95

Cầm trong tù đã mấy tháng liên.

Cổ mang gông, tay lại mang xiềng,

Còn bổn đạo, chết khôn kể xiết.

Ở trong tù rét đà rũ liệt,

Trọn mùa chay, đau đớn luôn luôn. 100

Song thật con lòng chẳng có buồn,

Chịu việc ấy, lấy làm có phước.

Chốn lao tù con đà khỏi được,

Lại gặp thơ cha mẹ gởi sang.

Cảm nghĩa sâu, hai cụm xuân đàng, 105

Đã tha lỗi, lại còn chúc phước.

Mắt xem thơ hai hàng thấm ướt.

Thấy mẹ cha sợ hãi cho con,

Vì cơn nầy nhiều nỗi thon von,

Đang bắt đạo ghe đàng khốn cực. 110

Xin cha mẹ chớ hề buồn bực,

Phú dưng con theo ý Chúa Cha.

Đất Nam Kỳ cách mặt rất xa,

Song lòng trí con đâu dám cách.

Thân phận con một mình đât khách, 115

Trí nhiều khi như gặp mẹ cha.


" Ớ Trái Tim Chúa cả thiên tòa,

Xin thương mến mẹ cha tôi hỡi!

Đàng xa xuôi khó bề lui tới,

Xin giúp rày hằng bữa bình an. 20

Đặng hưởng câu vạn phước thọ toàn,

Phần hồn xác thảy đều mạnh sức.

Xin mẹ cha lo bề đạo đức:

Kính Trái Tim Chúa cả luôn luôn,

Thì đặng an lòng chẳng có buồn: 125

Giữ nghĩa Chúa, hầu sau Chúa thưởng.

" Rất thương thay! Cù lao nuôi dưỡng!

Mấy em thì xin dạy dỗ liên.

Xin mẹ cha thường bữa cầu nguyền,

Cho con đặng trọn niềm hiếu tử, 130

Bổn phận con lo bề nắm giữ,

Phước đức thì ra sức cần chuyên,

Hầu giảng rao danh Chúa các miền,

Mở đạo thánh khắp nơi Nam Việt.

Thật con nay lòng mừng khôn xiết, 135

Làm lễ thì hằng nhớ mẹ cha.

Lại con năng xin Đức Chúa Bà

Hằng phù hộ xuống ơn che chở,

Trước trong nhà, sau là xứ sở,

Cùng bà con hết thảy bình yên. 140

Cả trong dòng kính Chúa thượng thiên,

Ngõ sum hiệp trên nơi cõi thọ.

Mọi điều kính thăm đà tỏ rõ,

Chúc miên trường hai chữ." Nay thơ.

Bấy lâu thương nhớ đợi chờ, 145

Viết thơ kể nỗi tri cơ nhiều tờ.

Trông tin dạ những ước mơ,

Nay cha mẹ mới gởi thơ tỏ bày:

Đã tha lỗi, lòng thương thay!

Lại còn chúc phước cho nay muôn phần.150

Từ đây nhựt dạ ân cần

Giảng rao đạo chánh, giáo dân các miền.

Đức Cha địa phận hằng khuyên,

Bảo thì phải ráng cần chuyên việc nầy,

Dạy người bổn quốc làm thầy, 155

Nối quyền Linh mục, giữ nay mối giềng.

Gắng công ra sức chẳng phiền,

Tập rèn sĩ tử nên hiền, nên danh.

Tai bay, họa xảy chẳng lành:

Ngô, Mên hiệp lại, tung hoành hại di 160

Ba cha tây ở một khi,

Một cha bị chết, còn thì hai cha.

Người bèn khi ấy trốn ra,

Giết đoàn sĩ tử còn mà ít hơi.

Phá nhà, phá cửa, tả tơi; 165

Của thâu cướp hết tức thời bỏ đi.

Việc rồi công luận một khi,

Cử người lên chức làm thì Bề trên.

Giữ gìn trường học cho bền,

Biết đâu cho đặng lập nên bây giờ? 170

Xiết bao những nỗi bơ vơ,

Nam Kỳ cấm đạo, đỗ nhờ sao yên?

Xiêm, Mên, bị giặc liền liền,

Khắp trong bá tánh đảo huyền đa đoan.

Xét đi tính lại kỉ cang, 175

Phải dời trường học trẫy sang chẳng chầy.

Qua miền thuộc địa của tây,

Ponri xứ ấy nước nầy nên xa.

Đường đi cách trở sơn hà,

Mướn ghe một chiếc thả mà nổi trôi. 180

Tớ thầy thảm thiết thương ôi!

Cha con lặn lội, kể thôi không cùng.

Minh mông sóng bổ đùng đùng,

Địa bàn một cái để dùng mà coi.

Trăng trăng, nước nước, trời trời, 185

Tới nơi cảnh lạ, lập thời trường ra.

Lo dạy dỗ, dựng nên nhà,

Bốn năm ở đó, được mà bình yên.

Đức Cha địa phận cao niên,

Nên nay phải chọn thế quyền giữ chăn. 190

Cử cha Pinho chức thăng,

Sau làm Giám mục giữ căn bổn nầy.

Đức Cha địa phận vui vầy,

Gởi tờ về đến, dưng ngay Giáo Hoàng.

Lịnh trên phê chỉ rõ ràng, 195

Ưng cho người đặng chiếu vàng sắc phong.

Tính rồi các việc ngoài trong,

Đức Cha tạ thế đam lòng lo toan.

Đất Nam Kỳ, nước Cao Man,

Ấ y là địa phận nấy ban cho người. 200

Lên quờn tuổi mới ba mươi,

Mattia lễ thánh thì người thọ phong.

Lãnh chức rồi mới vừa xong,

Trở về địa phận giữ trong mối giềng.

Tới Hà Tiên, rất cần chuyên, 205

Bi Lư lập họ, về miền nước Mên.

Sai các cha giảng phía trên,

Rồi sai phía dưới, xuống lên khắp miền.

Nam Kỳ địa phận chưa yên,

Qua Xiêm, sang Mọi, đi Mên giảng truyền. 210

Đức Cha chọn đứng nhơn hiền,

Phong người bổn quốc nối quyền làm cha.

Lo sau dạy dỗ người ta

Cho đồng ngôn ngữ, thiệt là dễ hơn.

Phong cha Nghi đặng lên quờn, 215

Sau vua gặp được, nhờ ơn ông nầy.

Nước nhà loạn, biết tôi ngay,

Xin sau xem việc ông thầy hiền nhơn. "

Đọan nầy tỏ hết căn duơn,

Nước Nam sự tích nguồn cơn như vầy. 220

Cứ trong Sử, làm ra đây :

Nhà Lê chánh vị ngự nay ngôi quyền,

Khắp trong triều chẳng đặng yên,

Lại là thế nhược, lúc nghiêng, hồi nghèo.

Nhiều khi trong nước cheo leo, 225

Thì là họ Nguyễn hằng theo giúp hoài.

Lại nhờ họ Trịnh giữ cai,

Phò vua vực nước, trong ngoài sửa sang;

Đánh Nam , dẹp Bắc danh vang,

Nên vua trọng thưởng phong ban chức quờn; 230

Tỏ lòng kính chuộng biết ơn,

Đặt làm hai chúa căn nguơn mọi đàng.

Song vì họ Trịnh cao sang,

Quyền cao thế mạnh gần ngang bệ rồng.

Chúa Nguyễn Hoàng, lòng ước trông, 235

Ông nầy dòng Nguyễn khởi công ban đầu.

Mưu kia, chước nọ, nhiệm mầu,

Đêm toan, ngày tính đặng hầu tách ra.

Ông Trịnh Kiểm, gốc Trịnh gia,

Có tài dẹp giặc khắp mà gần xa. 240

Chị Nguyễn Hoàng, vợ Trịnh gia,

Xin cho em mới đặng mà xuất thân.

Trịnh Kiểm tâu, vua ân cần,

Đàng Trong phê chỉ, an phần trẩy xa.

Đàng Ngoài từ Huế sấp ra, 245

Đàng Trong từ Huế sấp mà trở vô.

Trấn nơi Huế, lập nghiệp đô.

Nguyễn gia, Trịnh chúa, phân phô nghịch rày.

Nguyễn không tùng Trịnh ngày nay;

Đánh nhau trăm trận, Nguyễn tày không suy. 250

Từ làm chúa lập kinh kì,

Mấy đời nay mới vận thì đổi đi.

Duệ Vương dòng Nguyễn trị vì,

Có quan phụ chánh, hiểm nguy trăm đàng.

Tên người là Trương Phước Man, 255

Ở ăn khắc bạc, dân than thở lòng.

Huế thành hết thảy ngoài trong,

Không còn tùng phục, hòng mong phản đầy.

Vua Lê, chúa Trịnh bàn nay,

Sai Huỳnh Ngũ Phước sắp bày binh cơ. 260

Quan quân tới Huế phất cờ,

Đánh nay Nguyễn chúa bây giờ chạy đi.

Quảng Nam Nguyễn ngụ một khi,

Kế đâu ông Nhạc mới thì dấy binh.

Giặc nầy thiệt dữ nên kinh, 265

Anh em ba gã đồng tình làm hung.

Nhạc, Huệ, Lữ, thật tam hùng,

Đã nên tài trí, lấy cùng nước Nam .

Nhạc hay muốn nặng túi tham,

Thua bài, thua bạc, hằng ham bạc tiền. 270

Làm biện lại đánh bạc liên,

Của quan làm hết, Nhạc liền thoát thân.

Trốn đi khi ấy, hiệp quần

Phía tây trên núi, cướp lân, phá làng.

Lần lần tụ đặng vài ngàn: 275

Tây Sơn gốc giặc rõ ràng thế ni.

Trước rằng: phò giúp triều nghi,

Nhạc sau không kể, không vì tới chi.

Muôn binh tướng mạnh dị kì,

Qui Nhơn chiếm cứ, lập thì nghiệp đô. 80

Nguyễn gia thế đã đơn cô,

Tây Sơn mới đánh, chạy vô Sài Gòn.

Ba chú cháu cùng bà con,

Ở nơi Gia Định chẳng còn binh cơ.

Nhạc xưng vương mới tung hô, 285

Hiệu đề Thái Đức, đắp tô lũy thành.

Sai em là Huệ xuất hành,

Đi ra đánh Huế tranh giành đoạt ngang.

Giục binh thẳng riết băng ngàn,

Đánh đâu thắng đó, đã vang trong ngoài. 290

Vua Lê, chúa Trịnh thua hoài,

Cự đà hết sức, hết tài dõng binh.

Lấy Thăng Long, chỗ Lê kinh,

Khi đầu Huệ cũng còn nhìn tới vua.

Vua Lê đã thất, bị thua, 295

Vua đem công chúa gả đùa cho va.

Lầm mưu khẩu thiệt, tâm xà,

Gả con cho giặc rất đà thiết tha!

Mở kho lấy của hằng hà,

Phen sau Huệ biểu tôn mà lên ngôi. 300

Xưng Quang Trung hiệu vừa rồi,

Đặt quan các chỗ, giữ coi an bài.

Việc xong, từ giã Đàng Ngoài,

Trở về thành Huế, ngự đài Nguyễn gia.

Cảnh Hưng Lê đế thăng hà, 305

Tôn vua Chiêu Thống rốt mà nhà Lê.

Vua nầy chịu cực não nề,

Cùng là chúa Trịnh trăm bề gian nan.

Bấy lâu chúa dựng ngai vàng,

Nhiều đời nay cũng đều tàn giang san. 310

Tây Sơn đánh đuổi phá tan,

Sót còn một ít trốn ngang lên đàng.

Thảm thay! Thái hậu tân toan,

Cùng là hoàng tử chạy sang qua Tàu.

Dưng thơ tấu hết trước sau, 315

Xin cùng Thanh đế chữa bàu đoái thương:

Vua quan thất quốc triều đường,

Ngày nay cứu giúp, ơn bường thái sơn.

Vua nghe tỏ nỗi nguồn cơn,

Động lòng thương đến ra ơn hết lòng. 320

Lịnh truyền Tổng đốc Quảng Đông,

Sai Tôn Sĩ Nghị hưng công binh đầy.

Đại Thanh cờ dựng vang dầy,

Quyết sang vấn tội, giúp rày vua Lê.

Mười muôn binh kéo tràn trề, 325

Ông Tôn Sĩ Nghị chỉ đề tướng quân.

Các quan mạnh đã như thần,

Những là đề đốc muôn phần phò phang.

Binh qua các ải, các gành,

Lớp thì đánh tẩy, lấp toan dựng thành. 330

Bắn ra đồn cháy khắp quanh,

Các quan ngụy đảng bôn hành vỡ tan.

Sông Nhĩ Hà binh sắp dàn,

Rồi sang Hà Nội, chỗ thành Thăng Long.

Um sùm những tiếng Quảng Đông, 335

Binh như kiến cỏ tràn đồng, chật sông.

Tống tờ khắp hết ngoài trong,

Khoe khoang tướng mạnh, binh ròng khôn đang.

Kiêu căng kể chuyện hiển vang,

Rằng: " Vua Thượng vị dạy sang khử tà. 340

Làm cho hòn đá chẻ ra,

Núi non khắp cả gần xa ban bằng.

Làm cho sông biển khô khan,

Bao nhiêu đảng tặc đánh tan đi rày. "

Quang Trung nghe giận lắm thay, 345

Thấy tờ phi báo, cười nay phán rằng:

" Tao cho nó xấc mấy thằng;

Để tao chánh vị cao thăng bây giờ. "

Gộp binh khắp hết kéo cờ,

Tới nơi Thanh đóng viết thơ tức thì. 350

Xin đầu, xin lỗi một khi,

Khiêm nhường, nhút nhác, ai bì nhỏ nhoi.

Chẳng dè binh đã hẳn hòi,

Thanh khinh Nam dở, có coi ra gì.

Thần công súng phát khắc kì, 355

Tứ phương giai ứng, voi thì kéo ra.

Súng đâu bắn vải, binh sa,

Đèn sào, hỏa hổ, vụt mà khắp giăng.

Binh Tàu thua chạy nhào lăng,

Trèo thành, leo lũy, trốn băng đã đầy. 360

Ai ôi! Mấy tướng chết ngay,

Dưới sông khách nổi ngày rày linh đinh.

Trận nầy thật dữ hết tình,

Ngụy vương vinh hiển, quan binh ai tày.

Tướng hùm, tướng hổ giỏi hay, 365

Cùng là quân sĩ chết nay nửa phần.

Sớ tâu thanh đế ân cần,

Vua cho binh viện đặng lần trẫy qua.

Phước Khương An tướng sai ra,

Sắp binh chín tỉnh, kíp mà tới nơi. 370

Quang Trung nhiều kế, nhiều lời,

Bạc vàng hối lộ tức thời đam dưng.

Thiệt nên bực đại gian hùng,

Trăm hung, ngàn dữ, mưu chưng nên già.

Phước tướng quân tấu thượng tòa, 375

Xin binh khoan huởn, đặng mà liệu toan.

Rằng mùa hè nắng chan chan.

Lại mời Lê để qua sang nơi mình.

1958    16-03-2011 08:51:40