Sidebar

Chúa Nhật

14.07.2024

Đức Thầy Vêrô_3


Tây Sơn nay đã giận hung,

Đem binh xuất trận đánh hung mấy đồn. 590

Nguyễn Ánh binh kéo khắp dồn,

Đuổi binh bội đảng chạy bôn rút về.

Tướng quân mạnh sức được nề,

Rượt theo giặc trốn tư bề uyên thiên.

Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên, 595

Thảy đều bắt đặng, lấy liên mấy thành.

Trí an các chỗ phản hành,

Về thành Gia Định tập tành binh thêm.

Nước nhà sắp đặt ngày đêm,

Trên bờ, dưới thủy, khép kềm binh cơ. 600

Bấy lâu hồi biến đến giờ,

Giấu trong gia quyến đỗ nhờ hôm mai.

Tỉnh Quảng Trị lánh nạn tai,

Nguyễn Ánh nay mới dạy sai rước về.

Các quan hội hiệp nghiêm tề, 605

Tôn người tức vị, an bề quốc gia.

Phen nầy mới chịu vương tòa,

Đ ại Nam Nguyễn chúa ngự mà ngôi cao.

Bá quan văn võ trong trào,

Tới chầu vương vị, ngợi rao các thành. 610

Xong rồi kế việc chẳng lành,

Đỗ Thanh Nhơn ỷ chức danh quyền mình.

Ở ăn nhiều việc bất bình,

Lộng quyền, cậy thế, sự sinh dữ dằn.

Muốn giết vua, vua khuyên răn, 615

Bởi công trận lớn, ai bằng, ai đang?

Chẳng nghe cứ tánh bạo tàn,

Nên vua lập kế, cho quân giết rày.

Những là bộ hạ chơn tay,

Của quan tướng ấy ngày nay mến thầy, 620

Trốn đi làm giặc thêm gây;

Lại sau nó hiệp với Tây Sơn cùng.

Bấy lâu giặc sợ tướng hung,

Đỗ Thanh Nhơn chết, binh nhung dấy đầy.

Ngụy vương Nhạc, Huệ, mừng thay, 625

Dọn thuyền trăm chiếc, thẳng ngay Cần Giờ.

Ông Manoe chực hờ,

Người tây nầy của cậy nhờ Đức Cha

Dưng vua phò tá quốc gia,

Trận nầy bạc mạng phải mà nạn nay. 630

Tàu đi mắc cạn không day,

Tây Sơn nó áp phủ vây đầy tàu.

Túng bề chẳng biết làm sao,

Xuống hầm thuốc súng, đốt ào cháy giăng,

Cả tàu bị chết dữ dằn. 635

Tây Sơn xông trận chạy băng giựt cờ

Bởi liền đem đốt bầy giờ

Tàu thuyền vua cháy, giặc vô Sàigòn.

Đoạt thành, vua chạy Ba Giồng,

Hà Tiên, Phú Quốc, thẳng sông miết dài. 640

Sàigòn giặc đặt quan cai,

Anh em Nhạc, Huệ, về ngoài Quy Nhơn.

Châu Văn Tiếp, tướng giỏi hơn,

Cùng là binh sĩ phá quờn Tây Sơn.

Tru đảng nguỵ, diệt bất nhơn, 645

Kéo cờ tá quốc, giận hờn Tây Sơn.

Rước vua về lại Sàigòn,

Vua làm đồn luỹ nơi sông khắp dài.

Dây thảo long, giăng an bài,

Hỏa công thuyền đậu, đã ngoài một trăm. 650

Tây Sơn nay quyết hằm hằm,

Tàu thuyền chạy riết, thẳng nhằm đồn vua.

Súng bắn hung, binh chạy đùa,

vạn binh, thiên tướng, điều thua bỏ thành.

Vua chạy bộ, tới Rạch Chanh, 655

Gặp trâu nằm nước, nằm khoanh dưới bùn.

Lên lưng nó lội nữa chừng,

Sông sâu, trâu hụt cẳng chưn nó rày.

Việc nầy thực rất nên may,

Sấu trừng, vua mới bước ngay qua liền. 660

Sấu thì dữ, mà nay hiền,

Nghiêng mình vua ngự, chở chuyên qua bờ.

Chạy sang Phú Quốc nương nhờ,

Tây Sơn vây bắt, bây giờ khó toan.

Áo vua cổi mặc cho quan, 665

Nhà Lê Phước Điển, tráo gian mưu dày.

Đứng mũi thuyền, giặc chẳng hay,

Bắn Lê Phước Điển, vua nay thoát liền.

Trung thần tiếng để thiên niên,

Liều mình chịu chết, vẹn tuyền tôi ngay. 670

Giặc bắt được dỗ không lay,

Phong quờn, ban chức cho nay, không màng.

Cứu vua khỏi chết rõ ràng,

Chẳng thèm tùng giặc, cao sang, lộc quyền.

Đêm, ngày, vua cứ chạy liên, 675

Ra Côn Nôn ngụ; giặc truyền phủ vây.

Ba ngày bao khắp Đông, Tây,

Nhờ trời dông bão, đất bay mịt mù.

Chết chìm liều íu, lu bù,

Trên bờ, dưới nước tối hù thấy đâu. 680

Lòng vua ra sức khẩn cầu.

Thoát thân chạy khỏi, giặc hầu biết chi.

Bạt thuyền Phú Quốc một khi,

Đức Thầy lúc ấy trốn thì lưu linh.

Các linh mục cực hết tình, 685

Vêrô Giám mục giữ gìn trước sau.

Dưới sông, trên bộ, dác nhau,

Nam Kỳ trốn khắp, kể sao cho cùng !

Biển thì bị sóng hãi hùng,

Lào, Mên, Xiêm, Mọi. giặc hung đã đầy. 690

Mấy năm trôi nổi đắng cay,

Nhiều khi ở biển, ở ngay giữa vời.

Vua thì chịu cực hết hơi,

Quan quân đói khát, ăn thời những rau.

Đào khoai, bắt ốc nuôi nhau, 695

Moi nần, hái trái, ăn hầu đỡ thân.

Đức Thầy lo lắng muôn phần,

Sai người tìm kiếm lần lần hỏi nay.

Đức vua khốn cực lắm thay,

Đức Thầy khi ấy ở rày trong Xiêm. 700

Đức vua cũng ra sức tìm;

Hai vì nay hiệp, phỉ niềm ước trông.

Cùng nhau mừng rỡ hết lòng,

Kể ra đoạn thảm long đong không cùng.

Đức Thầy thương cách lạ lùng: 705

Bao nhiêu lương phạn, đồ dùng, của ăn,

Đam dưng vua đặng phát ban,

Giúp cho tướng, sĩ, được đàng ấm no.

Các cha, dân giã dưng cho,

Kẻ nhiều, người ít, hằng lo giữ gìn. 710

Ở chung bàn luận hết tình,

Suy đi, xét lại, cho minh cho tường.

Đức Thầy an ủi lo lường,

Gắng công cầu cứu, tìm phương vẽ bày.

Vua rằng: "Nhiều nước phương tây, 715

Cũng đều muốn giúp, rủi may khó lòng.

Đòi nhiều, đòi ít, lòng dòng,

Trẫm hằng nghi ngại, phải phòng, phải lo.

Việc xong khó nỗi đôi co."

Đức Thầy bàn tính, sánh so, chỉ bày , 720

Điều hơn, sự thiệt, lẽ hay,

Vua liền ưng chịu, phú tay Đức Thầy

Viện cầu về nước bên tây,

Phangsa đại quốc, ban ngay ấn rày.

Đông Cung giao phú Đức Thầy, 725

Mới năm, sáu tuổi, bỏ nay nước nhà.

Đặng cho cứu khổ nước ta,

Làm con tin thật, đặng mà viện binh.

Công đồng hiệp nghị an bình,

Làm mười bốn khoản, triều đình lập thanh. 730

Không kể ra, vì bất thành,

Việc sau điều ước thi hành chẳng nên.

Phong thơ vua đứng ở trên,

Triều đình đứng dưới, gởi bên tây thành.

Thương thay! Giám mục nhơn lành, 735

Thấy vua khốn cực chẳng đành bỏ qua.

Vua thì hằng hỏi Đức Cha,

Lại xin cứu giúp cơn mà hiểm nguy.

Thở than, than thở sầu bi,

Trọng làm mưu sĩ, kính vì quân sư. 740

Luận bàn tính việc nên hư,

Đức Thầy chỉ vẽ, ưu tư mọi bề.

Xuất thân cực khổ chẳng nề,

Lo đi cầu viện, chiu mê đoạn sầu.

Trí hằng sợ hãi nguyện cầu. 745

Việc thành có phước, lo âu không thành.

Lòng thương vương vị Nguyễn Anh,

Lại rằng: "Nếu việc đặng thành ngày sau,

Ắt là vua sẽ chữa bàu,

Nước vua, đạo thánh, cùng nhau thuận hòa." 750

Tính rồi ý nhiệm cao xa,

Cầu xin Chúa cứu, vua mà Nguyễn Anh.

Em Hoàng hậu, đã tùng hành,

Cùng hai quan lớn chịu danh đạo lành.

Đức Thầy rửa tội an thành, 755

Dạy cha Nghi giúp Nguyễn Anh hằng ngày.

Lạ thay cho một điều nầy!

Đông Cung còn nhỏ vua rày bảo đi,

Không khóc lóc, chẳng cãi gì,

Đức vua chỉ phán, tức thì chịu đi. 760

Kẻ thương, người mến, li bì,

Quốc gia loạn lạc phân li nỗi nầy.

Vua rằng: "Trẫm phú Đức Thầy,

Lễ nghi, phép đạo, dạy rày con ta,

Hầu sau kế vị nước nhà." 765

Đức Thầy nghe phán vui mà xiết bao!

Trúng lòng người đã ước ao,

Vua bồng, vua dắc, vua trao, phú quyền.

Dấu yêu dường thể thánh hiền,

Đông Cung mến đạo, lại siêng học hành. 770

Đức Thầy lo lắng tập tành,

Thuộc kinh, sáng dạ, hiền lành, khôn dang.

Đức Thầy gánh vác muôn vàn,

Tận tâm, kiệt lực, liệu toan kế phòng

Cùng là việc đạo ngoài trong, 775

Tâu vua các chuyện, đặng hòng trí an.

Hai phương, hai nước, đôi phang,

Gởi trong bổn đạo, Cao Hoàng biết hay.

Đã nên sốt sắng ai tày,

Lo về phần đạo, rõ nay hết lòng. 780

Nuôi học trò, ra sức nong,

Ba mươi theo với, thoát vòng hiểm nguy.

Đem qua Thiên Trước một khi,

Lập nhà trường đó dạy thì lễ văn.

Dầu cơn khốn cực khó khăn, 785

Lo bề bổn phận, không hằng giãn ra.

Kể từ cách mặt mẹ cha

Hai mươi năm chẵn, hồi qua Nam Kỳ.

Ngày nay hữu sự ra đi,

Lòng thương bịn rịn, xiết chi đoạn phiền! 790

Bấy lâu ở với bầy chiên,

Đêm cầu, ngày khẩn, giữ giềng mối luôn.

Nhiều khi cực khổ thảm buồn,

Mảng theo chơn Chúa, chịu muôn ngàn sầu.

Bị bắt đạo, hằng lo âu, 795

Lại còn sự giặc, kể đâu cho cùng!

Đức Thầy xin Chúa rộng dung,

Cứu hồi cơn khổ bão bùng tân toan.

Dầu hao, tim lụn, canh tàn,

Đi buồn, đứng nhớ, ngồi bàn, dựa than. 800

Trống lầu canh nhặt không an,

Tiếng gà eo ét, hai hàng đượm tuôn.

Đoàn chiên Chúa, phú dưng luôn,

Nước chao, sóng dợn, lòng buồn thảm thay!

Một mình thầm thĩ canh chầy, 805

Đọc kinh, lần hột, cầu nay đêm ngày.

Cây cao thì gió càng lay;

Càng cao sang trọng, càng dày gian nan!

Lòng lo mọi nỗi thở than,

Hai vai gánh nặng đầy tràn cả hai. 810

Một bên Giám mục giữ cai,

Một bên tá quốc hôm mai nhọc nhằn.

Giã từ, dời gót, phăng phăng,

Vua quan trọng kính, đứng giăng chúc lành.

Đông Cung, Giám mục đồng hành, 815

Ba người tùng phái non xanh đạp giày.


1622    16-03-2011 08:59:23