Sidebar

Chúa Nhật

14.07.2024

Đức Thầy Vêrô_8


Đức vua nay tống lịnh ra,

Ba mươi hai khoản, sửa mà binh cơ. 1370

Răn dưới thủy, cấm trên bờ,

Cùng là khắp tỉnh, chớ sơ lịnh truyền.

Nghiêm răn nhặt nhiệm bảo khuyên.

Lại nay vua cũng quở liên, dặn dò.

Các quan hiệp đánh bạc to, 1375

Quở quan rát mặt, quan lo điếng hồn.

Lại rằng: "Chúa tạo càn khôn,

Trên trời dưới đất, chí tôn đời đời.

Chúa bổn đạo thờ nơi nơi,

Ai khinh phạm đến, phạt thời chẳng tha." 1380

Đoạn nầy quyết phục quốc gia,

Công đồng xuất trận, binh mà kéo đi.

Đức vua bàn luận xiết chi,

Sai Đông Cung với cùng thì Đức Cha.

Nha Trang trấn thủ cự già, 1385

Binh giăng các lũy giữ mà ngoài trong.

Vua hằng ép uổng hết lòng,

Đông Cung còn nhỏ cậy trông Đức Thầy.

Mưu mô bày trí nên hay,

Đuổi quân đảng tặc, chạy bay tìm đường. 1390

Kéo cờ, ai dám tranh cường,

Thành đồn, chống vững một phương lạ lùng.

Tiểu Triều oán Cảnh Thịnh hung,

Bấy lâu nay mới nổi xung đánh nà.

Qui Nhơn nghiệp đế của cha, 1395

Lấy rồi lại sợ giữ mà không an.

Gởi tâu Nguyễn chúa bảo toàn,

Đầu hàng cho đặng vững đàng nghiệp nay.

Chẳng ngờ Cảnh Thịnh đã hay,

Đam quân vô đánh, giết ngay Tiểu Triều. 1400

Đức vua lo lắng nhiều điều,

Lòng buồn rầu rĩ, việc điều chẳng an.

Đức Thầy lưu trấn Nha Trang,

Ngày nay vua dạy trẩy sang tức thì.

Qui Nhơn thành tựu một khi, 1405

Đức vua, Giám mục, đều thì hiệp đây.

Chung cùng bàn luận đêm ngày,

Đức vua than thở với nay Đức Thầy:

"Mấy trận thủy, nhờ tàu tây,

Của quân sư sắm, dựng gầy bấy lâu.1410

Mấy trận bộ, đã tóm thâu,

Cũng đà hết sức, mới hầu đặng nay.

Mấy nơi đồn lũy về tay,

Cũng hằng kiên giữ, đêm ngày keo sơn.

Ngặt vì một cõi Qui Nhơn, 1415

Chỗ đô của ngụy dữ hơn các thành.

Trẫm đam binh tới vây quanh,

Đánh đà mỏi mệt, tử sanh chẳng nài.

Xuân qua, đông lụn lâu dài,

Trót năm tử trận kể đầy mấy muôn. 1420

Ngã lòng trẫm muốn mở buông,

Đức Thầy can gián vây luôn thành nầy."

Đức vua nghe tiếng bảo đây,

Nên truyền quân cứ vây đầy các nơi.

Binh vây ngụy tặc hết hơi, 1425

Tư bề nghiêm nhặt, thương ôi! Nhọc nhằn.

Các tướng giặc thấy dữ dằn,

Lớp thì thoát trốn, lớp bàn thủ thân.

Liệu không xong, mới tỏ phân,

Xin hàng cho đặng khỏi phần nạn tai. 1430

Trước khi đầu, nhờ con nai,

Ban đêm chạy chỗ quan cai lũy đồn.

Quân thất thế, dậy la dồn,

Nghe nai thì tưởng binh Đồng Nai bao.

Bắn nhau sa hố, té hào, 1435

Sáng ra mới biết la Lào, nói Ngô.

Đức vua vào tới ngụy đô,

Lòng mừng hết sức, cơ đồ nghiệp vương.

Vỗ về tướng sĩ, binh cường,

Qui Nhơn tên cũ toan đương đổi liền. 1440

Đặt là Bình Định, trông yên;

Dạy quan Võ Tánh cầm quyền giữ nay.

Quan nầy tướng nhứt giỏi hay.


Kế đâu bịnh tới Đức Thầy phải lâm.

Đức vua thật rất tình thâm, 1445

Rước danh sư tới, khóc dầm thở than.

Chữa chuyên hết sức vô phang,

Đức Thầy nguyện Chúa thiên đàng đoái thương.

Đã ba mươi hai năm trường,

Hết lòng kính Chúa, lo lường lập công. 1450

Bấy lâu khẩn nguyện ước trông,

Trông vua có đạo, rày không ra gì.

Hai mươi năm cực sá chi,

Giúp vua Nam Việt phục thì quốc vương.

Lòng mong cả nước bốn phương, 1455

Ngày sau thờ Chúa, theo đường đạo ngay.

Đức Thầy chí quyết thuở nay,

Rày gần vô ích, tiếc thay không cùng.

Đức Thầy nay trối thỉ chung,

Gởi trong giáo hữu cho chưng vua cùng. 1460

Lại rằng: của mọn xin dưng,

Những là báu vật đồ dùng bên tây,

Vua Lu-y ban bấy chầy,

Ngày nay dưng hết của nầy cho vua,

Để dùng buổi sớm, lúc trưa. 1465

Lại chường quốc mẫu xin tua nhậm dùng.

Trối cùng Hoàng tử Đông Cung,

Của hèn sư đệ hãy dùng ngày nay.

Cùng nhau mười mấy năm chầy,

Dưỡng nuôi dạy dỗ, nào khuây tấm lòng. 1470

Đông Cung nước mắt ròng ròng,

Thương Thầy sầu não, không cùng thảm thay.

Đức Thầy kêu Chúa phú tay,

Linh hồn mọi việc xin rày Chúa thương.

Hết lòng sốt sắng lo lường, 1475

Chịu ơn bí tích đủ đường một khi.

Có câu sinh kí tử qui,

Đức Thầy nay đã mới thì về quê.

Tiêu diêu trực vãng lạc hề,

Tới nơi cõi thọ, hầu kề Chúa Cha. 1480

Trong triều hết thảy gần xa,

Vua quan thương khóc, buồn mà nơi nơi.

Năm mươi bảy tuổi qua đời;

Đức vua kể nỗi, châu rơi trăm bề:

"Chước Thầy bày chất muôn xe, 1485

Đánh đồn đánh lũy, chở che thành vàng.

Loạn thần, phản chúa, nghèo nàn,

Mưu cao mấy nhiệm, phá tan ngụy tàn.

Nhắm xem trong nước gần an,

Ngôi vàng hòng vững, hòng toàn, hòng thanh. 1490

Bội quân đút mặt xó thành,

Thân đơn, thể mỏng, mặt xanh như chàm.

Bấy lâu trẫm ở cõi Nam ,

Lao đao cực khổ, Thầy cam tấm lòng.

Hỡi ôi! Công rất trọng công! 1495

Ơn chưa được trả, ngãi không đặng đền.

Dòng châu mịt mịt nào yên,

Mờ mờ suối ngọc, đâu quên ơn Thầy!

Thương ôi! Người cõi bên tây,

Cứu vua Nam Việt dựng gầy quốc an. 1500

Ơn nầy trẫm tạc bia vàng,

Trẫm đề chữ thắm, danh vang muôn đời."

Sau coi sắc tặng của người,

Không điều thêu dệt, không lời bày ra.

Lịnh đam gấm, nhiễu, lụa là, 1505

Hòm thì rất tốt, liệm mà Đức Cha.

Chở về Gia Định cất nhà,

Để quàn hai tháng, tỏ mà nhớ thương.

Qui Nhơn các tỉnh hùng cường,

Trí quan cai giữ, lịnh vương phản hồi. 1510

Sài Gòn đều mới tới nơi,

Đức vua đau đớn, thương thôi nhiều đường!

Các cha làm lễ thường thường,

Khắp trong bổn đạo lo lường đọc kinh.

Cầu hồn, xem lễ tỏ tình, 1515

Nguyện xin Giám mục trường sinh cõi trời.

Các quan triều ở nơi nơi,

Tới mà thăm viếng, trọng người quốc sư.

Đông Cung mến đấng nhơn từ,

Vua cho để chế cũng như thân mình. 1520

Đông Cung thương nhớ hết tình,

Đãi đằng hầu hạ, tỏ mình như con.

Đượm đầy khóc lóc nỉ non,

Nghĩ tình sư đệ, héo don đoạn trường.

Tốn hao các cuộc phô trương, 1525

Của vua ban cấp, nhiều đường trọng thay.

Vua đi xem lễ châu mày,

Thương vì nghiệp cả, công dày thuở nay.

Đức vua dạy các quan tây,

Cứ trong phép đạo vẽ bày việc ra. 1530

Có sức nào táng Đức Cha,

Thì làm ngần ấy, ban mà tận tâm.

Mồng mười tháng chạp An Nam,

Kỷ vì năm ấy, đang nhằm mùa đông.

Ban đêm thiên hạ tràn đồng, 1535

Hai giờ khuya mới khởi công phát hành.

Đàng đầu Thánh Giá xưng danh,

Lồng đèn kết sáng khắp quanh đi đàng.

Sáu bàn chạm lọng thếp vàng,

Sơn son hết thảy, sắp hàng khiêng ra. 1540

Thứ nhứt khám kính Thiên tòa,

Hoàng Thiên Chúa tễ trọng mà tung hô;

Thứ hai, khám ảnh Phaolồ;

Thứ ba, thánh cả Vêrô tỏ bày,

Ấ y là Bổn mạng Đức Thầy; 1545

Thứ tư, Hộ thủ kính nay Thiên thần;

Thứ năm, Đức Mẹ khoan nhân,

Phù trì giáo hữu, ra ân muôn ngàn;

Thứ sáu, triệu thêu chữ vàng,

Họ tên, chức tước, lớp lang sắp bày. 1550

Kế rạp gậy mũ Đức Thầy,

Để đồ Giám mục trước ngay quan tài.

Nhi nam, nhi nữ kéo dài,

Trùm, câu, chức họ, đi hai bên đàng.

Các cha lớp lớp có hàng, 1555

Quan triều, vị vị phẩm dàn kế đây.

Vua ngự cùng các quan tây,

Đông Cung trưởng tử hầu rày sầu bi.

Bà Hoàng hậu, các thứ phi,

Hoàng nam, Công nữ, đi thì theo nay. 1560

Lính hộ vệ bồng súng tay,

Lọng tàn, gươm giáo, kể đầy hai muôn.

Đường ra trận, giữ phép khuôn.

Voi ngoài trăm thớt hầu luôn hai hàng.

Thắng kiều khấu, rất nghiêm trang, 1565

Như chầu vua vậy, sửa sang rạng ngời.

Đô tùy khiêng tám mươi người;

Sáp thì đã thắp mấy mươi ngọn đèn.

Người sang cho tới kẻ hèn,

Muôn vàn thiên hạ ngợi khen tiếng đồn. 1570

Làng Tân Sơn cách Sài Gòn,

Năm kilomètres, nơi chôn Đức Thầy.


1439    16-03-2011 09:18:17